Toàn cảnh thị trường Tôm tháng 1/2026 - Tại ĐBSCL, giá tôm thẻ nguyên liệu trong tháng 1 tiếp tục ở mức cao do nguồn cung hạn chế với hầu hết kích cỡ trong giai đoạn trái vụ

08:37 09/02/2026 AgroMonitor

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 1/2026

Thị trường Việt Nam

- Xuất khẩu tôm của Việt Nam tháng 1/2026: Trong tháng 1/2026, xuất khẩu tôm của Việt Nam đạt 31,58 nghìn tấn, trị giá 349,58 triệu USD, tăng 20% về lượng và 15% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước (cuối tháng 1/2025 trùng vào Tết Nguyên Đán).

- Cung cầu tôm thẻ: Trong tháng 1/2026, lượng xuất khẩu tôm thẻ thành phẩm đã giảm 6% so với tháng 12. Trong đó xuất khẩu sang các thị trường Mỹ, EU, Hàn Quốc đều suy giảm. Nguồn cung thu hoạch trong tháng 1 đã tăng nhẹ 5 nghìn tấn so với tháng 12 lên mức 24 nghìn tấn (vẫn ở mức thấp). Tồn kho tôm thẻ cuối tháng 1 hạn chế ở mức 6,6 nghìn tấn.

Dự kiến tháng 2, sản lượng tôm thẻ đạt khoảng 18-22 nghìn tấn, giảm 2-4 nghìn tấn so với tháng 1. Xuất khẩu tôm thẻ thành phẩm trong tháng 2/2026 sẽ tiếp tục giảm xuống mức 17-20 nghìn tấn (tương đương 23-25 nghìn tấn nguyên liệu), giảm 3-7 nghìn tấn so với tháng 1. Tồn kho tôm thẻ cuối tháng 2 dự kiến vẫn chưa cải thiện, đạt dưới 10 nghìn tấn.

- Giá tôm thẻ nguyên liệu: Tại ĐBSCL, giá tôm thẻ nguyên liệu trong tháng 1 tiếp tục ở mức cao do nguồn cung hạn chế với hầu hết kích cỡ trong giai đoạn trái vụ (trữ lượng cỡ 120 con/kg về lớn dưới 20 nghìn tấn). Trong nửa đầu tháng 1, giá tôm thẻ tại các nhà máy nhìn chung ít biến động. Tuy nhiên xu hướng giá đảo chiều giảm trong nửa cuối tháng với hầu hết kích cỡ, trong bối cảnh các nhà máy gia công thu mua cách nhật/nghỉ Tết sớm, thương lái giao hàng chủ yếu về nhà máy lớn làm lượng mua hàng tại nhóm nhà máy lớn tăng nhẹ (vẫn ở mức thấp). Bình quân tháng 1, giá tôm thẻ tại các nhà máy vẫn tăng 1.000-6.000 đ/kg so với tháng 12/2026, giá tôm thẻ ướp đá tại đầm cũng tăng 500-3.000 đ/kg.

- Xuất khẩu tôm thẻ: Trong tháng 1/2026, xuất khẩu tôm thẻ đạt 23,83 nghìn tấn và 202,58 triệu USD, tăng 25% về lượng và 22% kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, so với tháng 12/2025, lượng xuất khẩu đã giảm 6%. Lượng xuất khẩu sang khu vực Đông Á, Bắc Mỹ và EU ghi nhận mức tăng khoảng 17-38% so với cùng kỳ năm 2025 nhưng giảm 3-12% so với tháng 12/2025.

Có 218 doanh nghiệp xuất khẩu tôm thẻ, trong đó lượng xuất khẩu của 5 doanh nghiệp dẫn đầu đạt 6,87 nghìn tấn, chiếm tỷ trọng 29%. TS Sóc Trăng (Stapimex) là doanh nghiệp có lượng xuất khẩu lớn nhất với 1,71 nghìn tấn, tăng 21% so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm 11% so với tháng 12/2025.

- Cung cầu tôm sú: Tháng 1/2026, sản lượng tôm sú thu hoạch đạt 8,5 nghìn tấn, giảm 500 tấn (-6%) so với tháng 12/2025. Tiêu thụ nội địa cũng giảm 500 tấn (-8%) so với tháng trước xuống mức 5,5 nghìn tấn do nguồn cung tôm hạn chế, riêng trong tuần đầu tháng 1 trùng vào nghỉ Tết Dương lịch nên giao dịch tại nội địa có phần sôi động hơn so với các tuần sau đó. Xuất khẩu tôm sú thành phẩm giảm 19% so với tháng trước xuống mức 2,3 nghìn tấn (tương đương 3,4 nghìn tấn nguyên liệu). Tồn kho tôm sú cuối tháng 1 ở mức 3,14 nghìn tấn – mức thấp nhất kể từ tháng 7/2025.

- Giá tôm sú nguyên liệu: Giao dịch tôm sú nguyên liệu về các nhà máy tại ĐBSCL trong tháng 1 khá trầm lắng do nguồn cung khan hiếm và người dân ưu tiên bán hàng đi thị trường nội địa. Một số nhà máy gia công cho Trung Quốc đã tăng giá thu mua tôm sú từ 1.000-13.000 đ/kg so với tháng 12/2025, trong khi đó các nhà máy lớn có xu hướng giữ giá ổn định ở mức cao. Tại đầm các tỉnh ĐBSCL, giá tôm sú ướp đá tăng 1.000-4.000 đ/kg so với tháng 12. Giá tôm sú oxy cũng tăng với hầu hết kích cỡ do được thúc đẩy bởi nhu cầu nội địa tăng vào dịp Tết Dương lịch, trong đó cỡ 20-25 con/kg tăng mạnh nhất 30.000-38.000 đ/kg.

- Xuất khẩu tôm sú: Xuất khẩu tôm sú tháng 1/2026 đạt 2,3 nghìn tấn, trị giá 27,44 triệu USD, tăng 17% về lượng và 25% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Còn so với tháng 12/2025, xuất khẩu tôm sú giảm 19% về lượng và kim ngạch. Xét theo thị trường chính, xuất khẩu tôm sú sang các khu vực EU và Bắc Mỹ tăng 33-96% so với cùng kỳ năm trước, trong khi giảm 7% tại khu vực Đông Á. Có 85 doanh nghiệp xuất khẩu tôm sú, trong đó top 5 doanh nghiệp dẫn đầu về lượng đạt khoảng 1,01 nghìn tấn, chiếm tỷ trọng 44%. Trong đó, 2 doanh nghiệp thuộc TS Minh Phú dẫn đầu về lượng xuất khẩu tôm sú: TĐ TS Minh Phú (MPCM) đạt 416 tấn (+36% so với cùng kỳ năm trước) và TS Minh Phú Hậu Giang đạt 293 tấn (+274%, +214 tấn).

Thị trường thế giới

- Giá tôm thẻ nguyên liệu: Tháng 1/2026, giá tôm thẻ nguyên liệu tại Việt Nam và Ấn Độ tăng 0,06-0,18 USD/kg so với tháng 12/2025 do nguồn cung ở mức thấp trong giai đoạn trái vụ. Giá tôm thẻ tại Indonesia cũng tăng nhẹ 0,03-0,1 USD/kg với cỡ 50-100 con/kg, riêng cỡ 30-40 con/kg (chuyên xuất khẩu sang Mỹ) giảm 0,08-0,09 USD/kg so với tháng trước. Tại Thái Lan, giá tôm thẻ có xu hướng đi ngang ở mức cao. Trong khi đó, giá tôm thẻ tại Ecuador và Trung Quốc giảm 0,03-0,17 USD/kg so với tháng trước.

- Nhập khẩu:

+ Năm 2025, nhập khẩu tôm của Trung Quốc đạt 988,02 nghìn tấn, trị giá 5,32 tỷ USD, giảm 1,21% về lượng và tăng 5,02% về trị giá so với năm 2024. Trong đó, Ecuador là thị trường xuất khẩu lớn nhất vào Trung Quốc với 651,89 nghìn tấn (-3,05%).

+ Năm 2025, nhập khẩu tôm của Nhật Bản đạt 219,23 nghìn tấn, trị giá 2,05 tỷ USD tăng 1,76% về lượng và tăng 7,3% về trị giá so với năm 2024.

- Xuất khẩu:

+ Năm 2025, Ecuador đã xuất khẩu 1,39 triệu tấn tôm, trị giá 7,47 tỷ USD, tăng 15% về lượng và 23% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.

+ Năm 2025, Indonesia đã xuất khẩu 217,91 nghìn tấn tôm, trị giá 1,86 tỷ USD, tăng 2% về lượng và 11% về kim ngạch so với năm 2024.

+ Xuất khẩu tôm thẻ của Thái Lan trong năm 2025 đạt 37,05 nghìn tấn, trị giá 10,97 tỷ baht, giảm 18,27% về lượng và giảm 11,41% về trị giá so với năm 2024. Đối với tôm sú, lượng xuất khẩu đạt 12,18 nghìn tấn, trị giá 2,46 tỷ baht, tăng 8,17% về lượng và tăng 8,04% về trị giá so với năm 2024.

Xem tin chi tiết tại: Toàn cảnh thị trường Tôm tháng 1/2026

Tin cũ hơn