Toàn cảnh thị trường Tôm tháng 4/2026 - Các nhà máy tại ĐBSCL đã giảm giá thu mua tôm sú từ 2.000-12.000 đ/kg so với tháng trước khi nguồn cung tôm quảng canh tăng nhẹ so với tháng trước

08:57 12/05/2026 AgroMonitor

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 4/2026

Thị trường Việt Nam

- Xuất khẩu tôm của Việt Nam tháng 4/2026: Trong tháng 4/2026, xuất khẩu tôm của Việt Nam đạt 36,83 nghìn tấn trị giá 394,35 triệu USD, tăng 12% về lượng và 10% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu tôm thẻ đạt 28,3 nghìn tấn (+16%), trị giá 241,47 triệu USD (+10%), tôm sú đạt 3,45 nghìn tấn (-16%) và 43,96 triệu USD (-4%).

- Cung cầu tôm thẻ: Trong tháng 4/2026, xuất khẩu tôm thẻ thành phẩm đạt 28,3 nghìn tấn, tăng 3% so với tháng 3/2026. Về nguồn cung, lượng thu hoạch tôm thẻ trong tháng 4 đạt 38 nghìn tấn, tăng 4 nghìn tấn (+12%) so với tháng 3. Mức tăng sản lượng chậm hơn 1 chút so với kỳ vọng ban đầu (dự báo trong tháng trước sản lượng tháng 4 đạt thấp nhất 39 nghìn tấn) do diện tích nuôi về cỡ 80 con/kg về lớn giảm dần về cuối tháng và sản lượng cỡ lớn giảm.

Dự kiến trong tháng 5/2026, sản lượng tôm thẻ đạt khoảng 45–50 nghìn tấn, tăng 7-12 nghìn tấn so với tháng 4. Xuất khẩu kỳ vọng vẫn giữ xu hướng tăng trong tháng 5 do nhiều thị trường vào giai đoạn nhập hàng để chuẩn bị cho cao điểm mùa hè. Xuất khẩu tháng 5 dự báo tăng 5-10% so với tháng 4, lên mức 30–31 nghìn tấn thành phẩm. Tồn kho cuối tháng 5 dự kiến sẽ gia tăng lên mức 22-24 nghìn tấn, nhưng vẫn là mức khá thấp trong khi chuẩn bị vào mùa cao điểm (tồn kho thấp hơn 13 nghìn tấn so với cuối tháng 5/2025).

- Giá tôm thẻ nguyên liệu: Tháng 4, giao dịch tôm thẻ về các nhà máy chế biến tại ĐBSCL tăng trong nửa đầu tháng do trữ lượng tôm tăng với tháng 3 nhiều hộ nuôi đẩy mạnh thu hoạch để chuẩn bị nuôi vụ mới dẫn đến các nhà máy chế biến đã giảm giá tôm mạnh. Tuy nhiên, đến nửa cuối tháng 4 và đầu tháng 5 do giá sảm sâu các nhà máy đã tăng nhẹ giá mua trở lại để kích thích người nuôi thả lại. Theo đó, giá tôm thẻ tháng 4 cỡ 50 con/kg được các công ty mua ở mức 107.000-123.000 đ/kg, giảm từ 2.000-14.000 đ/kg so với tháng trước. Tại đầm các tỉnh ĐBSCL, giá tôm thẻ ướp đá cỡ 50 con/kg ở mức 104.000 đ/kg, giảm 4.000-14.000 đ/kg so với tháng 3, và giảm 20.000 đ/kg so với cùng kỳ năm trước). Tại thị trường nội địa, giá tôm thẻ oxy tại đầm cũng giảm 7.000-22.000 đ/kg so với tháng trước, giá giảm kết hợp với nhiều dịp Lễ diễn ra vào nửa cuối tháng (Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4-1/5) đã thúc đẩy giao dịch tại các chợ đầu mối sôi động hơn so với giai đoạn khá trầm lắng vào tháng 3.

- Xuất khẩu tôm thẻ: Xuất khẩu tôm thẻ tháng 4/2026 đạt 28,3 nghìn tấn và 241,47 triệu USD, tăng 16% về lượng và 10% kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Còn so với tháng 3/2026, lượng xuất khẩu tăng 3% và kim ngạch tăng 4%. Xét theo các thị trường chính, xuất khẩu sang khu vực Đông Á tăng mạnh 42% so với cùng kỳ năm trước, khu vực Bắc Mỹ cũng tăng khoảng 3%, tuy nhiên xuất khẩu sang khu vực EU giảm 10% so với cùng kỳ năm trước. Có 190 doanh nghiệp xuất khẩu tôm thẻ, trong đó lượng xuất khẩu của 5 doanh nghiệp dẫn đầu đạt 7,68 nghìn tấn, chiếm tỷ trọng 27%; TS Sóc Trăng là doanh nghiệp xuất khẩu lớn nhất với 2,32 nghìn tấn (tương đương cùng kỳ năm trước).

- Cung cầu tôm sú: Tháng 4/2026, sản lượng tôm sú thu hoạch đạt 11,5 nghìn tấn, tăng 4-4,5 nghìn tấn so với mức thấp trong tháng 2-3/2026. Lượng tiêu thụ nội địa cũng tăng so với tháng 3 lên mức 6,5 nghìn tấn (+2,5 nghìn tấn) khi nhu cầu tăng vào các dịp Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương (26-27/4), 30/4-1/5 đã thúc đẩy sức mua của người dân. Xuất khẩu tôm sú trong tháng 4/2026 đạt 3,4 nghìn tấn (tương đương 3,9 nghìn tấn nguyên liệu), tăng 24% so với tháng 3/2026, với mức tăng mạnh nhất từ Mỹ (+369 tấn, +53%). Tồn kho tôm sú cuối tháng 4 đạt khoảng 3,3 nghìn tấn, tăng 375 tấn (+13%) so với cuối tháng 3 – vẫn ở mức thấp.

Dự kiến, sản lượng tôm sú trong tháng 5/2026 sẽ phục hồi lên mức 14,5 nghìn tấn (chủ yếu vẫn là hàng quảng canh). Sản lượng tăng sẽ phần nào hỗ trợ tiêu thụ nội địa khi bắt đầu vào giai đoạn cao điểm du lịch hè, lượng tiêu thụ kỳ vọng tăng lên mức 9 nghìn tấn. Xuất khẩu tôm sú thành phẩm cũng dự kiến tăng lên mức 4-4,3 nghìn tấn (tương đương 5,5-5,7 nghìn tấn nguyên liệu). Tồn kho tại các nhà máy trong cuối tháng 5/2026 ước tính vẫn quanh mức 3,3-3,4 nghìn tấn.

- Giá tôm sú nguyên liệu: Tháng 4, các nhà máy tại ĐBSCL đã giảm giá thu mua tôm sú từ 2.000-12.000 đ/kg so với tháng trước khi nguồn cung tôm quảng canh tăng nhẹ so với tháng trước (nhưng vẫn ở mức thấp). Trong đó, giá tôm sú tươi cỡ 30 con/kg ở mức 160.000-200.000 đ/kg (không kiểm kháng sinh) và 163.000-196.000 đ/kg (đạt kháng sinh). Tại đầm các tỉnh ĐBSCL, giá tôm sú ướp đá cũng giảm 1.000-2.000 đ/kg so với tháng 3, bình quân cỡ 30 con/kg ở mức 165.000 đ/kg.

- Xuất khẩu tôm sú: Xuất khẩu tôm sú tháng 4/2026 đạt 3,45 nghìn tấn, trị giá 43,96 triệu USD, giảm 16% về lượng và 4% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Còn so với tháng 3/2026, xuất khẩu tôm sú tăng 24% về lượng và 21% về kim ngạch. Trong đó, lượng xuất khẩu giảm tại nhiều thị trường lớn ở Đông Á (Trung Quốc -8% so với cùng kỳ 2025, Nhật Bản -42%, Đài Loan -12%) và Bắc Mỹ (Mỹ -6%), tuy nhiên xuất khẩu sang EU tăng 7% so với cùng kỳ. Có 84 doanh nghiệp xuất khẩu tôm sú trong tháng 4, trong đó top 5 doanh nghiệp xuất khẩu nhiều nhất chiếm tỷ trọng 44% với 1,52 nghìn tấn. Dẫn đầu là TĐ TS Minh Phú (MPCM) đạt 656 tấn (-18%).

Thị trường thế giới

- Giá tôm thẻ nguyên liệu: Tháng 4/2026, giá tôm thẻ tại hầu hết thị trường cung cấp lớn trên thế giới đồng loạt giảm từ 0,01-0,81 USD/kg so với tháng trước do nguồn cung tăng vào vụ thu hoạch. Trong đó, giá tại Thái Lan giảm mạnh nhất 0,28-0,81 USD/kg. Tại Ecuador, giá tôm thẻ giảm 0,04-0,23 USD/kg so với tháng trước và đạt mức thấp nhất kể từ tháng 12/2023. Giá tôm thẻ tại Ấn Độ và Việt Nam cũng giảm 0,01-0,64 USD/kg so với tháng 3.

- Nhập khẩu:

Nhập khẩu tôm của một số thị trường lớn ở châu Á trong quý 1/2026 ghi nhận tăng trưởng khá tốt so với cùng kỳ năm 2026. Cụ thể nhập khẩu tôm của Trung Quốc trong quý 1/2026 đạt 273,25 nghìn tấn, trị giá 1,45 tỷ USD, tăng 22,96% về lượng và tăng 19,98% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Với Hàn Quốc, trong quý 1/2026, lượng nhập khẩu đạt 26,26 nghìn, trị giá 187,89 triệu USD, tăng 15% về lượng 12% về kim ngạch so với năm trước. Tương tự, nhập khẩu tôm của Nhật Bản trong quý 1/2026 đạt 45,64 nghìn tấn, trị giá 419,5 triệu USD, tăng nhẹ 1,53% về lượng so với cùng kỳ năm 2025.

Tại châu Âu, nhập khẩu của Anh vẫn ghi nhận kết quả khả quan trong 2 tháng đầu năm 2026, trong đó lượng nhập khẩu đạt khoảng 11,28 nghìn tấn, trị giá 88,23 triệu bảng, tăng 5% về lượng và kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, các thị trường khác của EU (EU 27) có dấu hiệu chững lại, đạt 87,3 nghìn tấn và 589,6 triệu EUR, giảm 2% về lượng và 5% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.

Tại Hoa Kỳ, nhập khẩu tôm trong quý 1/2026 cũng ghi nhận sụt giảm 9,91% so với cùng kỳ năm trước xuống 184,86 nghìn tấn. Nhu cầu tại Mỹ có xu hướng chậm lại do ảnh hưởng của lạm phát làm giá bán lẻ thủy hải sản tăng. Tính đến tháng 3/2026, giá bán lẻ hải sản đông lạnh tăng hơn 12% so với cùng kỳ 2025.

- Xuất khẩu:

Xuất khẩu tôm của các thị trường lớn trên thế giới trong các tháng đầu năm 2026 đã tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Ecuador đã xuất khẩu 368,05 nghìn tấn tôm trong quý 1, trị giá 1,96 tỷ USD, tăng 13% về lượng và kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.

Tại châu Á, xuất khẩu tôm thẻ của Thái Lan trong quý 1/2026 đạt 6,96 nghìn tấn, trị giá 2,01 tỷ baht, tăng 12,67% về lượng và tăng 2,59% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Mức tăng trước của Ấn Độ có phần khiêm tốn hơn, với lượng xuất khẩu đạt 102,66 nghìn tấn tôm (+4%), trị giá 695,18 nghìn USD (-2%).

Xem tin chi tiết tại: Toàn cảnh thị trường Tôm tháng 4/2026

Tin cũ hơn