Toàn cảnh thị trường Tôm tháng 2/2026 - Giao dịch tôm thẻ tại các nhà máy chế biến ở ĐBSCL trong tháng 2 chậm lại so với tháng trước do nhiều nhà máy tạm dừng mua hàng trong dịp Tết Nguyên đán

13:42 09/03/2026 AgroMonitor

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 2/2026

Thị trường Việt Nam

- Xuất khẩu tôm của Việt Nam tháng 2/2026: Trong tháng 2/2026, xuất khẩu tôm của Việt Nam đạt 21,99 nghìn tấn, trị giá 306,58 triệu USD, giảm 5% về lượng trong khi tăng 18% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước, trong đó lượng xuất khẩu sụt giảm do trùng vào dịp Tết Nguyên Đán (giữa tháng 2) làm tiến độ giao hàng bị ảnh hưởng.

- Cung cầu tôm thẻ: Trong tháng 2/2026, lượng xuất khẩu tôm thẻ thành phẩm đã giảm mạnh 37% so với tháng 1 do nhiều nhà máy tạm dừng sản xuất và xuất khẩu phổ biến từ 6-8 ngày để nghỉ Tết Nguyên Đán. Lượng thu hoạch tôm nguyên liệu trong tháng 2 cũng đã giảm 21% so với tháng 1, xuống mức 19 nghìn tấn. Tồn kho tôm thẻ cuối tháng 2 duy trì mức hạn chế dưới 10 nghìn tấn.

Dự kiến trong tháng 3, xuất khẩu tôm thẻ thành phẩm sẽ phục hồi lên trên 23 nghìn tấn - về mức tương đương tháng 1 và cùng kỳ năm 2025, sau khi đã giảm mạnh trong tháng 2. Tuy nhiên, cuối tháng 2-đầu tháng 3, do căng thẳng địa chính trị giữa Hoa Kỳ, Israel và Iran đã khiến chi phí vận chuyển gia tăng và làm gia tăng chi phí cho nhà xuất khẩu; tuyến vận chuyển đi EU khan tàu/giảm chuyến, theo đó làm tăng rủi ro lượng xuất khẩu thực tế có thể thấp hơn dự báo. Về lượng tôm thẻ thu hoạch trong tháng 3, dự kiến tăng 6-10 nghìn tấn so với tháng 2. Tồn kho trong tháng 3 dự kiến sẽ cải thiện nhưng vẫn ở mức thấp.

- Giá tôm thẻ nguyên liệu: Giao dịch tôm thẻ tại các nhà máy chế biến ở ĐBSCL trong tháng 2 chậm lại so với tháng trước do nhiều nhà máy tạm dừng mua hàng trong dịp Tết Nguyên đán (phổ biến từ 6-8 ngày), đồng thời xuất khẩu cũng sụt giảm nên đã gây áp lực lên giá tôm thẻ. Trong đó, các nhà máy lớn đã giảm giá 5.000-22.000 đ/kg với các cỡ thu mua chính 30-80 con/kg, các nhà máy gia công cho Trung Quốc cũng giảm giá 8.000-13.000 đ/kg với cỡ 90-120 con/kg so với tháng trước. Tại đầm các tỉnh ĐBSCL, giá tôm thẻ ướp đá đã giảm 4.000-22.000 đ/kg so với 1/2026, trong đó cỡ 30-50 con/kg giảm mạnh nhất 14.000-22.000 đ/kg. Giá tôm thẻ oxy tại đầm cũng giảm 8.000-36.000 đ/kg so với bình quân tháng trước, trong đó giá giảm trong nửa đầu tháng do nhu cầu nội địa khi tiêu thụ tại nội địa trước Tết vẫn khá chậm, trong khi xu hướng giá trong nửa cuối tháng tương đổi ổn định.

- Xuất khẩu tôm thẻ: Trong tháng 2/2026, xuất khẩu tôm thẻ đạt 14,96 nghìn tấn và 124,62 triệu USD, giảm 18% về lượng và 23% kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Còn so với tháng 1/2026, lượng xuất khẩu giảm 37% và kim ngạch giảm 38%. Trong các thị trường chính, xuất khẩu sang Đông Á và Bắc Mỹ ghi nhận mức giảm khoảng 19-47%, riêng khu vực EU tăng 5% so với cùng kỳ năm 2025.

Về phía doanh nghiệp, TS Minh Phú Hậu Giang (MPHG) là doanh nghiệp có lượng xuất khẩu lớn nhất với 1,04 nghìn tấn, giảm 13% so với cùng kỳ năm trước. Lượng xuất khẩu của một số doanh nghiệp lớn khác như Stapimex và TP Sao Ta cũng giảm mạnh 43-60% so với cùng kỳ năm trước.

- Cung cầu tôm sú: Sản lượng tôm sú thu hoạch trong tháng 2 đạt 7,5 nghìn tấn, giảm 1 nghìn tấn (-12%) so với tháng 1 và nhìn chung duy trì ở mức thấp dưới 10 nghìn tấn kể từ cuối năm 2025. Tiêu thụ nội địa cũng ở mức thấp nhưng tăng nhẹ 500 tấn (+9%) so với tháng trước lên mức 6 nghìn tấn do được hỗ trợ bởi nhu cầu của người dân tăng trong dịp Tết Nguyên đán. Trong khi đó, lượng xuất khẩu tôm thành phẩm giảm 47% so với tháng 1 xuống mức 1,23 nghìn tấn. Tồn kho tôm sú cuối tháng 2 ở mức 3,58 nghìn tấn – giảm 7% (-262 tấn) so cuối tháng 1.

Dự kiến, sản lượng tôm sú trong tháng 3/2026 sẽ tiếp tục giảm 500 tấn (-7%) so với tháng 2 xuống mức 7 nghìn tấn. Tiêu thụ nội địa cũng giảm 2 nghìn tấn xuống mức 4 nghìn tấn, do nguồn cung cỡ lớn hạn chế. Trong khi đó, hoạt động xuất khẩu có thể sẽ tăng trở lại nhưng vẫn ở mức thấp, đạt khoảng 2,5-2,6 nghìn tấn. Tồn kho tôm sú cuối tháng 3 dự kiến tiếp tục giảm xuống mức 3-3,1 nghìn tấn.

- Giá tôm sú nguyên liệu: Trong tháng 2, lượng thu mua tôm sú nguyên liệu tại ĐBSCL tiếp tục ở mức thấp do hầu hết các nhà máy nghỉ dài ngày trong dịp Tết Nguyên đán và nguồn cung hạn chế. Các nhà máy lớn có xu hướng giữ giá thu mua tôm sú ổn định ở mức cao, trong khi đó một số nhà máy gia công cho Trung Quốc đã tăng/giảm giá từ 1.000-12.000 đ/kg so với tháng 1. Tại đầm các tỉnh ĐBSCL, giá tôm sú ướp đá đã tăng 2.000-4.000 đ/kg so với tháng 1. Giá tôm sú oxy cỡ 20-40 con/kg cũng tăng 2.000-4.000 đ/kg so với tháng trước.

- Xuất khẩu tôm sú: Xuất khẩu tôm sú tháng 2/2026 đạt 1,23 nghìn tấn, trị giá 15,46 triệu USD, giảm 10% về lượng và 11% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Còn so với tháng 1/2026, xuất khẩu tôm sú giảm 47% về lượng và 44 về kim ngạch. Trong đó, lượng xuất khẩu sang các khu vực chính như Đông Á và Bắc Mỹ giảm 7-34% so với cùng kỳ năm trước.

2 doanh nghiệp thuộc TS Minh Phú dẫn đầu về lượng xuất khẩu tôm sú trong tháng 2. Cụ thể, TĐ TS Minh Phú (MPCM) đạt 199 tấn (-36% so với cùng kỳ năm trước) và TS Minh Phú Hậu Giang đạt 149 tấn (+26%). Tổng lượng xuất khẩu các công ty thuộc TS Minh Phú đạt 349 tấn, giảm 20% so với cùng kỳ năm trước.

Thị trường thế giới

- Giá tôm thẻ nguyên liệu: Tháng 2/2026, giá tôm thẻ nguyên liệu tại Việt Nam và Thái Lan đã giảm 0,1-0,77 USD/kg so với tháng trước do nhu cầu nguyên liệu từ các nhà máy chế biến ngưng trệ trong dịp Tết Nguyên đán dài ngày. Giá tôm thẻ tại Ấn Độ cũng giảm nhẹ 0,02 USD/kg với cỡ 50-100 con/kg, riêng cỡ 30-40 con/kg tăng 0,14-0,34 USD/kg so với tháng 1 do được hỗ trợ bởi nguồn cung khan hiếm. Trong khi đó, giá tôm thẻ tại Trung Quốc tăng 0,07-0,15 USD/kg so với tháng trước nhờ sự thúc đây từ nhu cầu nội địa tăng trong dịp Tết. Giá tôm thẻ tại Ecuador cũng tăng nhẹ 0,03-0,22 USD/kg. Đặc biệt, giá tại Inodnesia tăng mạnh 0,48-0,64 USD/kg so với tháng trước trong bối cảnh nguồn cung khan hiếm do ảnh hưởng từ mưa lũ liên tục tại nhiều khu vực từ đầu năm 2026 đến nay.

- Nhập khẩu:

+ Trong tháng 2, Mỹ đã có những thay đổi quan trọng về chính sách thuế quan. Đối với thuế chống bán phá giá tôm nước ấm đông lạnh, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã có kết quả chính thức cho các thị trường Ấn Độ, Việt Nam và Thái Lan trong đợt POR 19 (31/1/2023-1/2/2024) và nhìn chung kết quả chính thức đều tích cực hơn so với kết quả sơ bộ công bố đầu tháng 6/2025. Đối với Ấn Độ, DOC xác định mức thuế chung là 3,76% (giảm so với mức sơ bộ 3,96%). Đối với Việt Nam, DOC kết luận mức thuế cho Stapimex và Thông Thuận ở mức 25,76%, 22 doanh nghiệp khác được hưởng mức thuế 4,58% (giảm mạnh so với mức sơ bộ 35,29%). Với Thái Lan, mức thuế cho Thai Union là 2,01% (áp dụng đồng thời cho 13 doanh nghiệp khác), còn Charoen Pokphand Foods giảm từ ​​57,64% (sơ bộ) xuống 17,38% (chính thức).

Bên cạnh đó, Tổng thống Mỹ Trump đã thông báo sẽ dỡ bỏ áp thuế đối ứng và thay vào đó áp dụng thuế nhập khẩu chung 10% (ngày 20/2), sau đó thông báo tăng lên 15% (ngày 21/2).

+ Năm 2025, nhập khẩu tôm của Mỹ đạt 785,33 nghìn tấn, tăng 3,26% so với năm 2024. Trong đó, Ấn Độ là nước xuất khẩu lớn nhất vào Mỹ, đạt 293,98 nghìn tấn, giảm nhẹ 0,12% so với năm 2024. Ecuador xếp thứ 2 và Indonesia xếp vị trí thứ 3 với lượng đạt tương ứng 230,58 nghìn tấn (+23,28%); 119,14 nghìn tấn (-11,62%).

- Xuất khẩu:

+ Theo Tổng cục Thống kê Indonesia (BPS), trong tháng 1/2026, lượng xuất khẩu tôm đạt 17,79 nghìn tấn, trị giá 162,02 triệu USD, giảm 5% về lượng nhưng tăng 9% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lượng xuất khẩu sang Mỹ giảm xuống mức 10,04 nghìn tấn (-13%).

Xem tin chi tiết tại: Toàn cảnh thị trường Tôm tháng 2/2026

Tin cũ hơn