Thị trường Tôm tuần 4/7-10/7/2024: Sản lượng tôm thẻ thu hoạch tuần này tiếp tục tăng so với tuần trước do diện tích ao bạt của người dân và doanh nghiệp thả nuôi từ tháng 4 vẫn đang thu hoạch. Tuy nhiên, tỷ lệ diện tích thả mới tuần này vẫn ở mức thấp.

16:10 13/07/2024 AgroMonitor

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG TUẦN 4/7-10/7/2024

Thị trường Việt Nam

- Sản xuất tôm thẻ: Sản lượng tôm thẻ thu hoạch tuần này tiếp tục tăng so với tuần trước do diện tích ao bạt của người dân và doanh nghiệp thả nuôi từ tháng 4 vẫn đang thu hoạch. Tuy nhiên, tiến độ thả mới tuần này ở mức thấp, đặc biệt các farm ao bạt lớn có xu hướng tạm ngưng thả để chờ đợi diễn biến giá nguyên liệu phục hồi. Diện tích thả mới tại ĐBSCL trong tuần này chỉ đạt 2-3% diện tích mặt nước. Tính đến ngày 10/7, diện tích đang nuôi tôm tại ĐBSCL đã giảm xuống mức dưới 25% diện tích mặt nước. Tuy nhiên, giá tôm thẻ nguyên liệu vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi trở lại, hầu hết các cỡ từ 30-120 con/kg chỉ tăng/giảm nhẹ 500-1.000 đ/kg so với tuần trước.

- Giao dịch tôm thẻ: Tuần này, giá mua tôm thẻ nguyên liệu tại các nhà máy lớn và nhà máy gia công có xu hướng tăng chủ yếu với cỡ 30-80 con/kg, trong khi giảm mạnh với cỡ lớn 20-25 con/kg do ít nhà máy có nhu cầu hút hàng, mặt khác do sản lượng cỡ này đang gia tăng. Giá mua tôm thẻ ướp đá tại đầm ĐBSCL theo đó cũng giảm mạnh với cỡ 20-25 con/kg, trong khi ít biến động với các kích cỡ khác. Tuần này, lượng tôm thẻ nguyên liệu giao về các nhà máy lớn vẫn ở mức cao do các nhà máy tranh thủ hút hàng trong bối cảnh nhiều diện tích ao bạt đang thu hoạch nốt tôm cỡ 80 con về lớn. Đối với tôm thẻ oxy, sức tiêu thụ khá chững tại các thị trường miền Bắc, miền Trung và các chợ nội địa miền Nam; giá mua tại đầm tuần này biến động không đáng kể.

- Giao dịch tôm sú: Nguồn cung tôm sú tại ĐBSCL đã tăng trở lại do các ngày 5-9/7 trùng vào con nước tôm quảng canh, qua đó thúc đẩy giao dịch phục hồi. Tại thị trường nội địa, giao dịch tăng vào các ngày cuối tuần (5-7/7) nhờ sức mua từ cả phía hộ gia đình và khách sạn/nhà hàng phục vụ cho du lịch. Tuy nhiên, giá tôm oxy cỡ 20-40 con/kg đã giảm khoảng 2-5.000 đ/kg so với tuần trước. Các nhà máy chế biến cũng tăng thu mua tôm nguyên liệu để tận dụng nguồn cung quảng canh, đồng thời tiếp tục giữ giá mua ổn định.

- Xuất khẩu: Xuất khẩu tôm của Việt Nam tuần 26/6-2/7/2024 đạt 11 nghìn tấn, thu về 95 triệu USD, tăng 23% cả về lượng và kim ngạch so với tuần trước. Đây cũng là mức xuất khẩu tuần cao nhất từ đầu năm tới nay; trong đó, tôm được đẩy mạnh xuất khẩu đi hầu hết các thị trường lớn khu vực Đông Á, EU, Bắc Mỹ.

Thị trường thế giới

- Giá tôm thẻ: Tuần này, giá tôm thẻ nguyên liệu tại Indonesia giảm mạnh với tất cả kích cỡ. Trong khi tại Ấn Độ và Ecuador, giá có chiều hướng tăng (giá tại Ấn Độ tăng nhẹ, tại Ecuador chỉ tăng với cỡ vừa và lớn). Tại Thái Lan và Trung Quốc, giá cũng trong xu hướng tăng; trong đó giá tại Thái Lan tăng 0,14 USD/kg với hầu hết kích cỡ, giá tại Trung Quốc tăng 0,1 USD/kg với cỡ 70-100 con/kg. Tuần này, giá tôm thẻ nguyên liệu cỡ 100 con/kg tại Việt Nam đang cao hơn 0,4-0,84 USD/kg so với giá tại Ấn Độ, Ecuador.

- Xuất khẩu:

+ Lũy kế 6 tháng năm 2024, xuất khẩu tôm của Na Uy đạt 15.178 tấn và 754 triệu NOK, tăng 52% về lượng và 17% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu trong nửa đầu năm 2024 cũng là mức cao nhất so với cùng kỳ các năm 2000-2024.

- Nhập khẩu:

+ Theo NOAA, nhập khẩu tôm của Mỹ trong tháng 5/2024 đạt 63,77 nghìn tấn tăng 2,42% so với cùng kỳ năm 2023. Lượng nhập khẩu từ 2 thị trường lớn là Ấn Độ và Ecuador tăng lần lượt 2,32% và 15,31%, trong khi lượng nhập từ Indonesia giảm 14,92%.

- Một số tin đáng chú ý của thị trường thế giới:

+ Theo dự báo của Kontali, sản lượng tôm thẻ nuôi trên toàn cầu sẽ đạt 5,7 triệu tấn trong năm 2024, con số này dự kiến sẽ tăng khoảng 7% lên 6,1 triệu tấn vào năm 2025.

 

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG TÔM VIỆT NAM VÀ TƯƠNG QUAN VỚI THỊ TRƯỜNG NGUYÊN LIỆU THẾ GIỚI TUẦN 4/7-10/7/2024

Xem thêm tại http://www.viettraders.com/category/24/tom

Sản xuất tôm thẻ

Sản lượng tôm thẻ thu hoạch tuần này tiếp tục tăng so với tuần trước do diện tích ao bạt của người dân và doanh nghiệp thả nuôi từ tháng 4 vẫn đang thu hoạch. Tuy nhiên, tiến độ thả mới tuần này ở mức thấp, đặc biệt các farm ao bạt lớn có xu hướng tạm ngưng thả để chờ đợi diễn biến giá nguyên liệu phục hồi. Diện tích thả mới tại ĐBSCL trong tuần này chỉ đạt 2-3% diện tích mặt nước. Tính đến ngày 10/7, diện tích đang nuôi tôm tại ĐBSCL đã giảm xuống mức dưới 25% diện tích mặt nước. Tuy nhiên, giá tôm thẻ nguyên liệu vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi trở lại, hầu hết các cỡ từ 30-120 con/kg chỉ tăng/giảm nhẹ 500-1.000 đ/kg so với tuần trước.

Xem chi tiết mục sản xuất hàng tuần tại http://www.viettraders.com/group/24/69/tha-nuoi

Thị trường tôm thẻ nguyên liệu

Xu hướng mua tôm thẻ nguyên liệu và xuất khẩu của nhóm 10 nhà máy lớn tại ĐBSCL

Xu hướng mua tôm nguyên liệu

Tuần 4/7-10/7

Tuần 27/6-3/7

Tuần 20/6-26/6

Tuần 13/6-19/6

Trung bình tháng 6/2024

Lượng mua nhóm 10 nhà máy lớn (tấn)

4203

3947

3642

3836

 3,851

Thay đổi so với tuần trước

6%

8%

-5%

-2%

 

Giá mua tôm thẻ tại nhà máy (đ/kg)

 

 

 

 

 

- Cỡ 30 con/kg

1-4.000

/1-11.000

▼4-5.000

 

- Cỡ 50 con/kg

1-4.000

/1-2.000

/1-5.000

/1-3.000

 

- Cỡ 80 con/kg

500-1.500

/2-3.000

/1-5.000

/1-2.000

 

 

 

 

 

 

 

Lượng XK của nhóm 10 nhà máy lớn (tấn)

2800-3000

3425

2619

2,990

 2,756

Thay đổi so với tuần trước

-(12-15)%

31%

-12%

57%

 

Thị trường (Tấn)

 

 

 

 

 

- Mỹ

1000-1100

1,097

1180

1,040

 1,048

- EU

450-500

630

491

514

 490

- Úc

320-350

336

131

373

 248

- Nhật Bản

380-420

439

270

423

 336

- Hàn Quốc

130-150

150

153

136

 152

*Số liệu AgroMonitor dự kiến

- Giá mua tôm thẻ nguyên liệu tại các nhà máy lớn như Stapimex, Sao Ta, Khang An, Cases tăng với cỡ 30-80 con/kg, trong khi giảm lại với các cỡ lớn 20-25 con/kg do ít nhà máy có nhu cầu hút hàng, mặt khác do sản lượng cỡ này đang gia tăng..

- Lượng mua tôm thẻ nguyên liệu của nhóm 10 nhà máy lớn tại Sóc Trăng, Cà Mau tuần này tiếp tục tăng 6% (các nhà máy Minh Phú và Sao Ta có lượng mua tăng mạnh, Stapimex giảm lượng sau khi đạt mức cao vào tuần trước).

- Trong tháng 6, lượng xuất khẩu tôm thẻ đạt tổng cộng 29,4 nghìn tấn (tương ứng 239,3 triệu USD), tăng nhẹ 5% so với kết quả xuất khẩu tháng trước. Trong đó, xuất khẩu tương đối khả quan tại một số thị trường lớn như Mỹ (+14%), Trung Quốc (+26%), EU (+5%), Úc (+3%). Tại thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc, lượng xuất chững lại so với tháng trước (giảm 4-9%) - một phần do ảnh hưởng của tình trạng đồng nội tệ suy yếu.

Nguồn: AgroMonitor

Xu hướng mua tôm thẻ nguyên liệu và xuất khẩu của nhóm nhà máy gia công đi thị trường Trung Quốc tại ĐBSCL

Xu hướng mua tôm nguyên liệu

Tuần 4/7-10/7

Tuần 27/6-3/7

Tuần 20/6-26/6

Tuần 13/6-19/6

Trung bình tháng 6/2024

Lượng mua bình quân của các nhà máy gia công (tấn)

30-190 tấn/tuần/nhà máy

30-190 tấn/tuần/nhà máy

30-190 tấn/tuần/nhà máy

30-190 tấn/tuần/nhà máy

30-180 tấn/tuần/nhà máy

Thay đổi so với tuần trước

 

Giá mua tôm thẻ tại nhà máy gia công (đ/kg):

 

 

 

 

 

- Cỡ 100 con/kg

1-2.000

▲1-2.000

▼2-7.000

▲2.000

▼2-6.000

▲1-2.000

 

 

 

 

 

 

 

Lượng XK đi thị trường Trung Quốc (Tấn)

1100-1200

1240

1289

1261

 841

Thay đổi so với tuần trước

-(3-10)%

-4%

2%

10%

 

Chủng loại:

 

 

 

 

 

- PD

950-1050

1071

1010

1,163

 711

- HOSO

50-60

38

138

55

 98

- PTO

80-100

131

124

26

 22

*Số liệu AgroMonitor dự kiến

- Giá mua tôm thẻ nguyên liệu tại các nhà máy gia công tuần này cũng tăng với các cỡ mua chính từ 100 con/kg về lớn (chủ yếu tăng cỡ 30-100 con/kg).

- Lượng mua tôm thẻ nguyên liệu của nhóm nhà máy gia công tuần này duy trì như tuần trước.

- Trong tuần 26/6-2/7, xuất khẩu tôm thẻ đi thị trường Trung Quốc đạt 1,24 nghìn tấn – giảm nhẹ 4% so với mức cao vào tuần trước. Tuần này, xuất khẩu tôm thẻ đi thị trường Trung Quốc chiếm 86% là hàng PD (sơ chế lột vỏ, lấy chỉ rút tim), đạt gần 1,1 nghìn tấn; trong khi tỉ trọng hàng HOSO, HLSO (nguyên con) là 3% - đạt 38 tấn.

- Tại Trung Quốc, giá tôm nội địa tăng nhẹ trở lại trong tuần đầu tháng 7 do sản lượng tôm đã giảm lại (hết vụ, và một phần do ảnh hưởng bởi dịch bệnh), tôm chủ yếu ở cỡ vừa và nhỏ. Trong khi đó, sức tiêu thụ nhìn chung chưa phục hồi đáng kể. Tuần này, giá tôm thẻ nguyên liệu tại các nước Ấn Độ và Ecuador có chiều hướng tăng nhẹ và vẫn rẻ hơn giá nguyên liệu tại Việt Nam 0,4-0,9 USD/kg - theo đó các nhà xuất khẩu tôm thẻ của Việt Nam vẫn chịu áp lực cạnh tranh về giá (dù chênh lệch giá nguyên liệu với các nước đối thủ đã giảm đáng kể từ cuối tháng 6).

Nguồn: AgroMonitor

Tuần này, tổng lượng mua tôm thẻ nguyên liệu của 10 nhà máy lớn tại Sóc Trăng, Cà Mau đạt 4,2 nghìn tấn - tăng nhẹ 6% so với tuần trước. Lượng mua tăng chủ yếu tại các nhà máy như Minh Phú, Sao Ta, Khang An, Tài Kim ANh,... trong khi một số khác như Stapimex có lượng mua giảm lại (do tuần trước đã đạt mức cao).

Do lượng tôm thẻ giao về các nhà máy ở mức cao, từ tuần này một số nhà máy như Stapimex cũng thông báo sẽ siết chặt hơn việc kiểm và báo lượng giao hàng về nhà máy (trả lại các lô hàng báo sai lượng). Nhà máy Tài Kim Anh cũng thông báo sẽ không hỗ trợ 1% lượng và cỡ với các lô hàng giám sát cân tại công ty.

Tuần này, giá mua tôm thẻ nguyên liệu tại các nhà máy lớn như Stapimex, Sao Ta, Khang An (Sóc Trăng), Cases (Cà Mau) có tín hiệu tăng với cỡ 30-80 con/kg, trong khi giảm lại với các cỡ lớn 20-25 con/kg do ít nhà máy có nhu cầu hút hàng.

Hiện giá thu mua tôm thẻ tươi tại các nhà máy lớn khu vực Sóc Trăng như Stapimex, Sao Ta, Khang An cỡ 30 con/kg ở mức 126-143.000 đ/kg; cỡ 50 con/kg đạt 96-119.000 đ/kg (thẻ tươi, đạt kháng sinh). Đối với tôm thẻ ngâm, giá cỡ 50 con/kg đạt 84-98.000 đ/kg.

Tại Cà Mau, giá mua tôm thẻ tươi tại các nhà máy lớn như Minh Phú, Cases cỡ 30 con/kg đạt 104-124.000 đ/kg, cỡ 50 con/kg đạt 86-99.000 đ/kg; giá hàng ngâm cỡ 50 con/kg ở mức 54-90.000 đ/kg (đạt kháng sinh, chưa bao gồm trợ giá 3-13.000 đ/kg).

Các nhà máy gia công đi thị trường Trung Quốc tuần này cũng có xu hướng tăng giá mua tôm thẻ nguyên liệu với các cỡ mua chính từ 100 con/kg về lớn (song chủ yếu tăng giá cỡ 30-100 con/kg). Bên cạnh đó, một số nhà máy như Quốc Thanh, Hoa có động thái giảm giá một số cỡ nhỏ (100 con/kg về nhỏ) hàng ao đất, thẻ tươi.

- Giá thu mua tôm thẻ tươi tuần này tại các nhà máy khu vực Bạc Liêu (Cẩm Vui, Châu Bá Thảo, Huy Minh), Cà Mau (Minh Phát, Song Thư), Sóc Trăng (Quốc Thanh, Nhật Phượng, Hoa), cỡ 100 con/kg dao động trong khoảng 85-92.000 đ/kg (ao bạt, màu A2-A3, không kiểm tra kháng sinh) và 72-82.000 đ/kg (ao đất, không kiểm tra kháng sinh).

- Đối với tôm thẻ ngâm, giá mua tại một số nhà máy khu vực Cà Mau (Minh Phát, Song Thư), Bạc Liêu (Cẩm Vui) cỡ 100 con/kg đạt 57-70.000 đ/kg (không kiểm kháng sinh).

Đối với tôm thẻ oxy luộc đỏ, giá mua cỡ 60 con/kg tại một số nhà máy như Trang Khanh đạt 125.000 đ/kg.

Giao dịch tôm thẻ ướp đá tại đầm ĐBSCL: Giá mua tôm thẻ ướp đá tại đầm bình quân tuần này giảm mạnh 6.000 đ/kg với cỡ 20-25 con/kg do các nhà máy ít nhu cầu nhận hàng; giá các cỡ khác như 30, 60-120 con/kg giảm nhẹ 500-1.500 đ/kg. Riêng một số kích cỡ như 40-50 con/kg có giá bình quân tuần này nhích nhẹ 500 đ/kg - do là cỡ mua chính đang được hút hàng tại nhiều nhà máy lớn và một số nhà máy gia công. 

Tuần này, giá tôm cỡ 100 con/kg ở mức 82.000 đ/kg (ao bạt, màu đẹp, không kiểm tra kháng sinh) – cao hơn 16.000 đ/kg so với hàng ao đất (cỡ 100 con/kg ở mức 66.000 đ/kg, không kiểm kháng sinh). Đối với hàng đạt kháng sinh, giá cỡ 80 con/kg ở mức 84-85.000 đ/kg, cỡ 50 con/kg ở mức 96.000 đ/kg, cỡ 20 con/kg ở mức 175.000 đ/kg.

Thị trường tôm thẻ oxy tại ĐBSCL: Tuần này, giá bình quân tôm thẻ oxy tại đầm các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu cũng ít biến động. Theo đó, giá mua các cỡ 20-25 con/kg hàng không kiểm màu tiếp tục giảm nhẹ 1-1.500 đ/kg do lượng tôm cỡ lớn thu hoạch gia tăng, trong khi nhu cầu tiêu thụ hàng oxy với cỡ lớn (20-30 con/kg) tương đối chậm. Đối với các cỡ 40-70 con/kg, giá tuần này nhìn chung ít biến động (+500 đ/kg).

Tuần này, giá tôm thẻ oxy cỡ 50 con/kg đạt 95-96.000 đ/kg, cỡ 30 con/kg đạt 122-123.000 đ/kg với hàng không kiểm màu. Với hàng màu đẹp, giá cỡ 50 con/kg đạt 98.000 đ/kg.

Diễn biến giá tôm thẻ đá (ao đất, đạt kháng sinh) tại Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau theo tuần năm 2023-2024, nghìn đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor

Diễn biến giá tôm thẻ nguyên liệu tại đầm Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau (kiểm tra kháng sinh), nghìn đồng/kg

Phân loại: Tôm kiểm kháng sinh, ao bạt và ao đất

     

Kích cỡ

TB tuần 4/7-10/7

TB tuần 27/6-3/7

+/-

     

Cỡ 30 con/kg

120

121.5

-1.5

     

Cỡ 50 con/kg

96

95.5

0.5

     

Cỡ 80 con/kg

84.5

85

-0.5

     

Cỡ 100 con/kg

72.5

73

-0.5

 

 

 

Phân loại: Tôm không kiểm kháng sinh

Kích cỡ

Ao bạt (kén màu)

Ao đất

TB tuần 4/7-10/7

TB tuần 27/6-3/7

+/-

TB tuần 4/7-10/7

TB tuần 27/6-3/7

+/-

Cỡ 30 con/kg

-

-

-

113.5

116.5

-3

Cỡ 50 con/kg

94.5

95

-0.5

89.5

91

-1.5

Cỡ 80 con/kg

86

87

-1

76

77

-1

Cỡ 100 con/kg

82

83

-1

66

67

-1

Nguồn: AgroMonitor. Xem chi tiết từng cỡ trong tin tuần tại Viettraders.com

1.3. Giá nguyên liệu tôm thẻ miền Trung – miền Bắc

- Miền Trung:

Tại miền Trung (Bình Định, Phú Yên), giá tôm thẻ tại đầm tiếp tục ổn định tuần thứ 2 liên tiếp.

Bình quân tuần này, giá tôm thẻ ướp đá cỡ 100 con/kg đạt 75-80.000 đ/k; giá tôm thẻ oxy cỡ 100 con/kg đạt 75-85.000 đ/kg; cỡ 30 con/kg đạt 150-160.000 đ/kg.

Bảng giá tôm thẻ ướp đá tại đầm ở Bình Định, nghìn đồng/kg

Kích cỡ

TB tuần 4/7-10/7

TB tuần 27/6-3/7

+/-

Thẻ ao bạt/đất, oxy, không kiểm màu, không kiểm tra kháng sinh

30 con/kg

150-160

 

150-160

 

0

60 con/kg

95-105

95-105

0

100 con/kg

75-85

75-85

0

Thẻ ao bạt/đất, ướp đá, không kiểm màu, không kiểm tra kháng sinh

100 con/kg

75-80

75-80

0

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

- Miền Bắc:

Tuần này, giá tôm thẻ tại đầm các tỉnh miền Bắc cũng ít biến động. Thương nhân cho biết nguồn cung tôm đã giảm đáng kể sau đợt thu hoạch cao điểm trong tháng 6; hiện chiếm phần lớn là các ao tôm đạt cỡ nhỏ song lượng cũng không nhiều. Bên cạnh đó, sức tiêu thụ tại các chợ/nhà hàng/sự kiện, tiệc,... cũng chưa cho thấy chiều hướng gia tăng đáng kể trong tháng 7.

Cụ thể, giá mua tại đầm miền Bắc cỡ 30 con/kg ở mức 145-155.000 đ/kg, cỡ 100 con/kg ở mức 80-85.000 đ/kg (hàng oxy).

Bảng giá tôm thẻ tại đầm tỉnh Quảng Ninh, nghìn đồng/kg

Kích cỡ

TB tuần 4/7-10/7

TB tuần 27/6-3/7

+/-

Thẻ ao bạt/đất, oxy, không kiểm màu, không kiểm tra kháng sinh

30 con/kg

145-155

145-155

0

40 con/kg

140-150

140-150

0

60 con/kg

100-110

100-110

0

80 con/kg

85-95

85-95

0

100 con/kg

80-85

80-85

0

Thẻ ao bạt/đất, ướp đá, không kiểm màu, không kiểm tra kháng sinh

100 con/kg

75-80

75-80

0

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

 

THỊ TRƯỜNG NGUYÊN LIỆU TÔM SÚ

Xu hướng mua tôm sú nguyên liệu và xuất khẩu của nhóm nhà máy gia công đi thị trường Trung Quốc tại ĐBSCL

Xu hướng mua tôm nguyên liệu

4/7-10/7

27/6-3/7

Tuần 20/6-26/6

Tuần 13/6-19/6

Trung bình tháng 6/2024

Lượng mua của nhà máy (tấn/tuần)

 

 

 

 

 

- Minh Phú

457

112

500

139

362

Thay đổi so với tuần trước

308%

-78%

260%

-76%

 

- Sao Ta

29

6

34

3-5

18

Giá mua tôm thẻ tại nhà máy gia công (đ/kg):

 

 

 

 

 

- Hàng quảng canh:

 

- Hàng công nghiệp:

3-10.000

 

Giá mua tôm thẻ tại nhà máy lớn (đ/kg):

 

 

 

 

 

- Hàng quảng canh:

 

- Hàng công nghiệp:

10.000 (Sao Ta)

q3-9.000

5-15.000

 

 

 

 

 

 

 

Lượng XK (Tấn)

850-950

1,266

833

893

855

Thay đổi so với tuần trước

-(25-33)%

52%

-7%

21%

 

Thị trường:

 

 

 

 

 

- Nhật Bản

150-200

296

194

200

190

- Trung Quốc

180-250

380

169

155

183

- EU

100-150

178

117

230

182

- Mỹ

100-150

70

151

109

110

*Số liệu AgroMonitor dự kiến

- Giá thu mua tôm sú nguyên liệu hàng tươi/ngâm cỡ 20-50 con/kg tại các nhà máy chế biến giữ ổn định trong 2 tuần trở lại đây.

- Lượng thu mua tôm sú của các nhà máy chế biến đã tăng trở lại do nguồn cung tăng vào con nước quảng canh, trong đó lượng mua hàng của nhiều nhà máy ít biến động so với các tuần vào con nước trong tháng 5-6.

- Xuất khẩu tôm sú trong tháng 7 dự kiến giữ ở mức tương đương các tháng 5-6. Trong đó, nhu cầu từ Mỹ và Nhật Bản đang trên đà tăng nhưng cước vận tải cao và tình trạng thiếu container vẫn gây khó khăn cho các nhà máy. Trong khi đó, nhu cầu từ Trung Quốc phục hồi chậm.

- Trong tháng 6/2024, xuất khẩu tôm sú đạt 3,8 nghìn tấn, giảm 7% so với tháng 5 tuy nhiên vẫn tăng 28-180% so với lượng xuất khẩu trong tháng 1-4/2024. Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc đã giảm 24% so với tháng 5/2024 xuống mức 850 tấn. Tuy nhiên, một số thị trường chính vẫn tiếp tục phục hồi như Nhật Bản tăng 24% lên mức 890 tần, Mỹ đạt 440 tấn (+46%), Canada đạt 222 tấn (+36%), Đài Loan đạt 213 tấn (+23%)...

Nguồn: AgroMonitor

Nguồn cung tôm sú tại ĐBSCL đã tăng trở lại do các ngày 5-9/7 trùng vào con nước tôm quảng canh, qua đó thúc đẩy giao dịch phục hồi. Tại thị trường nội địa, giao dịch tăng vào các ngày cuối tuần (5-7/7) nhờ sức mua từ cả phía hộ gia đình và khách sạn/nhà hàng phục vụ cho du lịch. Tuy nhiên, giá tôm oxy cỡ 20-40 con/kg đã giảm khoảng 2-5.000 đ/kg so với tuần trước. Các nhà máy chế biến cũng tăng thu mua tôm nguyên liệu để tận dụng nguồn cung quảng canh, đồng thời tiếp tục giữ giá mua ổn định.

Đối với tôm sú oxy, giao dịch tăng trở lại do nguồn cung tôm quảng canh dồi dào và nhu cầu nội địa tiếp tục ở mức cao trong giai đoạn cao điểm du lịch mùa hè. Trong đó, giao dịch sôi động nhất vào các ngày 5-7/7 do trùng vào cuối tuần và con nước thu hoạch tôm quảng canh. Giá tôm sú cỡ 20-40 con/kg tại đầm đã giảm 2-5.000 đ/kg so với tuần trước do nguồn cung tăng, nhưng vẫn ở mức khá cao (tăng khoảng 20-30% so với cùng thời điểm năm 2023). Cụ thể, thương lái thu mua tôm sú oxy cỡ 20 con/kg ở mức 270-290.000 đ/kg, cỡ 30 con/kg ở mức 180-200.000 đ/kg (tôm màu đậm, đều cỡ).

Đối với tôm sú nguyên liệu, lượng giao dịch cũng theo đà tăng so với tuần trước do các nhà máy tranh thủ nhận hàng tôm quảng canh. Trong đó, lượng mua nguyên liệu của nhà máy Minh Phú đạt mức 457 tấn/tuần, tương đương lượng mua của các tuần trùng con nước quảng canh trong tháng 5-6 (đạt 432-573 tấn/tuần). Lượng thu mua của nhiều nhà máy gia công cho Trung Quốc cũng đạt lên mức khoảng 50-200 tấn/tuần. Giao dịch về các nhà máy chuyên mua tôm công nghiệp vẫn ở mức lai rai, trong đó nhà máy Sao Ta mua gần 30 tấn trong tuần này.

Hầu hết các nhà máy chế biến giữ giá nguyên liệu ổn định trong 2 tuần trở lại đây trong bối cảnh nhu cầu nguyên liệu và tiến độ xuất khẩu nhìn chung ổn định so với cuối tháng 6. Cụ thể:

-           Đối với tôm sú tươi: Các nhà máy Minh Phú, Sao Ta thu mua tôm đạt kháng sinh cỡ 30 con/kg ở mức 161-170.000 đ/kg. Trong khi đó, các nhà máy xuất khẩu cho Trung Quốc như Trang Khanh, Bạch Linh, Minh Cường thu mua tôm quảng canh cỡ 30 con/kg ở mức 140-153.000 đ/kg.

-           Đối với tôm sú ngâm, các nhà máy Cẩm Vui, Huy Bảo, Tấn Nhất Phương… tiếp tục thu mua tôm không kiểm tra kháng sinh cỡ 30 con/kg ở mức 115-130.000 đ/kg (công nghiệp/quảng canh).

-           Riêng đối với tôm sơ chế (HLSO), nhà máy Sao Ta có nhu cầu hút hàng cỡ 16/20 (cỡ 30-40 con/kg) nên tăng giá 10.000 lên mức 258.000 đ/kg (đạt kháng sinh), trong khi các kích cỡ khác không đổi.

Giá thu mua tôm sú ướp đá tại đầm cũng không đổi so với tuần trước. Các thương lái tiếp tục thu mua cỡ 30 con/kg ở mức 135-140.000 đ/kg, cỡ 50 con/kg ở mức 105-110.000 đ/kg (không kiểm tra kháng sinh).

Bảng giá tuần tôm sú nguyên liệu tại đầm Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau (không kiểm tra kháng sinh), nghìn đồng/kg

Kích cỡ

TB tuần 4/7-10/7/2024

TB tuần 27/6-3/7/2024

+/-

Phân loại: Tôm sú ướp đá (ao đất, không kiểm tra kháng sinh)

Cỡ 20 con/kg

175

175

0

Cỡ 30 con/kg

137.5

137.5

0

Cỡ 40 con/kg

116

116

0

Cỡ 50 con/kg

107.5

107.5

0

Phân loại: Tôm sú oxy (ao đất, không kiểm tra kháng sinh, không kén màu)

Cỡ 20 con/kg

278

280

-2

Cỡ 30 con/kg

190.5

195

-4.5

Cỡ 40 con/kg

148

150

-2

Cỡ 50 con/kg

120

120

0

Nguồn: AgroMonitor. Xem chi tiết từng cỡ trong tin tuần tại Viettraders.com

Diễn biến giá tôm sú đá (bắt ngang) cỡ 20-40 con/kg tại Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau theo tuần trong năm 2023-2024, nghìn đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor

XUẤT KHẨU TÔM

Xuất khẩu tôm của Việt Nam tuần 26/6-2/7/2024 đạt 11 nghìn tấn, thu về 95 triệu USD, tăng 23% cả về lượng và kim ngạch so với tuần trước. Đây cũng là mức xuất khẩu tuần cao nhất từ đầu năm tới nay; trong đó, tôm được đẩy mạnh xuất khẩu đi hầu hết các thị trường lớn khu vực Đông Á, EU, Bắc Mỹ.

Trong tuần 26/6-2/7/2024, xuất khẩu tôm của Việt Nam đạt 11 nghìn tấn, thu về 95 triệu USD, tăng 23% cả về lượng và kim ngạch so với tuần trước. Đây cũng là mức xuất khẩu tuần cao nhất từ đầu năm tới nay. Trong đó, tôm được đẩy mạnh xuất khẩu đi hầu hết các thị trường lớn khu vực Đông Á, EU, Bắc Mỹ; cụ thể: lượng xuất khẩu đi thị trường Trung Quốc +8%; Nhật Bản +50%; Hàn Quốc +7%; EU +49%; riêng thị trường Mỹ -4% và Asean -47%.

Trong tháng 6/2024, xuất khẩu tôm đạt 37,4 nghìn tấn và 325,4 triệu USD, tăng 4% về lượng song giảm nhẹ 1% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu tôm thẻ đạt 29,4 nghìn tấn (+2%) và 239,3 triệu USD (-4%); tôm sú đạt 3,8 nghìn tấn (-5%) và 43 triệu USD (-15%).

Xuất khẩu tăng đi khu vực EU đạt 8,6 nghìn tấn (+17%) và Bắc Mỹ đạt 7,9 nghìn tấn (+7%) bù đắp cho lượng giảm nhẹ tại khu vực Đông Á, đạt 16,7 nghìn tấn (-2%). Trong đó, tại khu vực Đông Á, xuất khẩu đi thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc đều tăng so với cùng kỳ; lần lượt đạt 4,6 nghìn tấn (+11%) và 3,9 nghìn tấn (+2%). Trong khi đó, xuất khẩu tôm đi thị trường Trung Quốc tăng dần về cuối tháng, song vẫn thấp hơn cùng kỳ khoảng 7%, đạt 7 nghìn tấn.

Về doanh nghiệp, Sóc Trăng vẫn là đơn vị dẫn đầu về lượng xuất khẩu tháng, đạt 2,7 nghìn tấn (-7% so với cùng kỳ) và 28,3 triệu USD (-12%). Trong đó, xuất khẩu đi thị trường chính là Mỹ, chỉ đạt 1,8 nghìn tấn; giảm 12% so với cùng kỳ. Đối với các công ty thuộc tập đoàn TS Minh Phú, xuất khẩu tôm trong tháng đạt 5,4 nghìn tấn (+39% so với cùng kỳ), thu về 52 triệu USD (+23%). Trong tháng, doanh nghiệp này đẩy mạnh xuất khẩu đi khu vực Đông Á đạt 1,7 nghìn tấn (+62%) và EU đạt 913 tấn (+81%).

Xem chi tiết tại: http://www.viettraders.com/group/24/478/xuat-khau-tom-tuan

Thay đổi của 10 thị trường tôm thẻ về trị giá tuần 26/6-2/7 so với tuần 19/6-25/6, triệu USD

Thay đổi của 10 thị trường tôm sú về trị giá tuần 26/6-2/7 so với tuần 19/6-25/6, triệu USD

 

THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

Giá tôm thẻ nguyên liệu tại các nước sản xuất chính:

- Tại Thái Lan, giá tôm thẻ cỡ 40-50 con/kg và cỡ 100 con/kg tăng 5 baht/kg so với tuần trước. Trong khi giá các kích cỡ khác giữ ổn định.

- Ngày 5/7, giá tôm thẻ tại Trung Quốc tiếp tục tăng. Nông dân tích cực thả giống nhiều nhưng tôm mới chỉ đạt kích cỡ nhỏ và vừa, lượng thu hoạch cũng hạn chế do thời tiết nắng nóng. Cụ thể: giá tôm thẻ cỡ 80 con/kg tại tỉnh Quảng Đông ở mức 32-33 NDT/kg, tăng 1 NDT/kg so với cuối tháng 6. Giá tôm thẻ cỡ 60 con/kg tại tỉnh Phúc Kiến có mức 39 NDT/kg, tăng 1 NDT/kg so với hôm 28/6.

- Ngày 8/7, giá tôm thẻ tại Indonesia giảm với tất cả kích cỡ. Cụ thể: Giá tôm thẻ cỡ 40 con/kg, cỡ 70 con/kg và cỡ 100 con/kg giảm 3.000-5.000 IDR/kg, lần lượt đạt mức 71.000 IDR/kg, 56.000 IDR/kg và 49.000 IDR/kg.

- Ngày 8/7, giá tôm thẻ tại Andhra Pradesh, Ấn Độ tăng nhẹ với tất cả kích cỡ. Cụ thể: Giá tôm thẻ cỡ 40 con/kg, cỡ 70 con/kg và cỡ 100 con/kg tăng 0,01-0,02 USD/kg, lần lượt đạt mức 3,92 USD/kg, 2,95 USD/kg và 2,47 USD/kg.

- Ngày 8/7, giá tôm thẻ tại Ecuador tăng với cỡ lớn và cỡ vừa, trong khi đi ngang với cỡ nhỏ. Cụ thể: Giá tôm thẻ cỡ 40 con/kg và cỡ 70 con/kg tăng 0,1-0,17 USD/kg, lần lượt đạt mức 3,42 USD/kg và 2,67 USD/kg; giá cỡ 100 con/kg không đổi, đạt mức 2,01 USD/kg.

Xuất khẩu

+ Theo Hội đồng Thủy sản Na Uy, trong tháng 6/2024, xuất khẩu thủy sản giảm 18% (khoảng 2,7 tỷ NOK) so với cùng kỳ năm 2023. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2024, xuất khẩu thủy sản đạt 80,6 tỷ NOK, giảm 2% (1,6 tỷ NOK) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tôm là sản phẩm có giá trị xuất khẩu lớn thứ 8 (đạt 754 triệu NOK).

Đối với xuất khẩu tôm, trong tháng 6/2024, lượng xuất khẩu tôm đạt 3.800 tấn và thu về 163 triệu NOK, tăng 29% về lượng và 5% (8 triệu NOK) về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng năm 2024, xuất khẩu tôm đạt 15.178 tấn và 754 triệu NOK, tăng 52% về lượng và 17% về kim ngạch (107 triệu NOK) so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu trong nửa đầu năm 2024 cũng là mức cao nhất so với cùng kỳ các năm 2000-2024. Xuất khẩu tăng do được hỗ trợ bởi hoạt động đánh bắt tăng ở Biển Barents.

Nhập khẩu

+ Theo NOAA, nhập khẩu tôm của Mỹ trong tháng 5/2024 đạt 63,77 nghìn tấn tăng 2,42% so với cùng kỳ năm 2023. Lượng nhập khẩu từ 2 thị trường lớn là Ấn Độ và Ecuador tăng lần lượt 2,32% và 15,31%, trong khi lượng nhập từ Indonesia giảm 14,92%.

Tin cũ hơn