Tin trong nước
+ Thị trường tôm thẻ nguyên liệu tại ĐBSCL ngày 4/9:
Các nhà máy chế biến tại ĐBSCL đã thu mua nguyên liệu bình thường trở lại sau 1-3 ngày nghỉ Lễ Quốc khánh (1-3/9). Trong đó, lượng mua hàng của hầu hết các nhà máy ít biến động so với trước khi nghỉ Lễ (cuối tháng 8). Cụ thể:
Tại Sóc Trăng, nhà máy Stapiemex thu mua khoảng 40-45 tấn/ngày trong các ngày 3-4/9. Nhà máy Tài Kim Anh vẫn thu mua quanh mức 25-30 tấn/ngày, Thủy Sản Sạch đạt 15-25 tấn/ngày, Khang An đạt 10-15 tấn/ngày, Út Xi đạt 5-8 tấn/ngày. Riêng tại nhà máy Sao Ta, do thời gian nghỉ Lễ dài hơn các nhà máy khác (3 ngày) nên trong ngày 3-4/2024 tăng lượng mua hàng lên mức 40-45 tấn/ngày so với mức cuối tháng 8 đạt 25-35 tấn/ngày, nhằm đảm bảo tiến độ sản xuất.
Lượng thu mua tôm thẻ nguyên liệu của nhà máy Minh Phú đạt khoảng 65 tấn/ngày.
Để đảm bảo tiến độ sản xuất sau nghỉ Lễ, một số nhà máy lớn tiếp tục tăng giá 1-5.000 đ/kg so với cuối tháng 8/2024 để thu hút nguyên liệu cỡ 80 con/kg về lớn. Trong đó, một số nhà máy tại Sóc Trăng như Stapimex, Khánh Sủng vẫn thu mua với giá cao hơn mặt bằng chung từ 3-23.000 đ/kg (tùy kích cỡ, loại hàng).
Tại Cà Mau, nhà máy Cases tăng giá 2-3.000 đ/kg so với cuối tháng 8. Theo đó, các nhà máy lớn ở Cà Mau đang thu mua tôm thẻ tươi cỡ 30 con/kg ở mức 160-162.000 đ/kg, cỡ 50 con/kg ở mức 118-120.000 đ/kg (đạt kháng sinh). Giá tại các nhà máy lớn ở Cà Mau đang thấp hơn 3-23.000 đ/kg so với các nhà máy Stapimex và Khánh Sủng (Sóc Trăng), nhưng cỡ 50-80 con/kg vẫn có thể cạnh tranh với nhà máy Tài Kim Anh, Sao Ta, Khang An.
Tại Bạc Liêu, nhà máy Sea Minh Hải và Thái Minh Long tăng 1-5.000 đ/kg đối với tôm cỡ 30-80 con/kg so với cuối tháng 8, trong đó thẻ tươi cỡ 30 con/kg ở mức 140-145.000 đ/kg, cỡ 50 con/kg ở mức 114-115.000 đ/kg (đạt kháng sinh).
Tại Sóc Trăng, nhà máy Tài Kim Anh cũng tăng giá 1-5.000 đ/kg, trong khi các nhà máy khác tạm giữ giá ổn định. Trong đó, giá tôm thẻ tươi cỡ 30 con/kg ở mức 158-182.000 đ/kg, cỡ 50 con/kg ở mức 106-143.000 đ/kg (đạt kháng sinh).
Xu hướng điều chỉnh giá mua tôm thẻ nguyên liệu tại các nhà máy gia công (tăng/giảm - nghìn đồng/kg, cỡ tôm - con/kg) khu vực ĐBSCL, cập nhật ngày 4/9/2024
|
Khu vực |
Nhà máy |
Xu hướng |
1-4/9 |
30-31/8 |
27-29/8 |
|
Sóc Trăng |
Sao Ta (thẻ tươi, ngâm) |
Ổn định |
▬ |
▬ |
▬ |
|
|
Stapimex (thẻ tươi) |
Ổn định |
▬ |
▬ |
▬ |
|
|
Khang An (thẻ tươi, ngâm) |
Ổn định |
▬ |
▬ |
27/8:▲2-4.000 (20-85); 28/8: ▲1-4.000 (30-35, 50-90) |
|
|
Tài Kim Anh (thẻ ngâm) |
Tăng giá |
3/9:▲1-3.000 (17-25); 4/9: ▲1-2.000 (17-60) |
▬ |
▬ |
|
|
Tài Kim Anh (thẻ tươi) |
Ổn định |
▬ |
▬ |
▲1-3.000 (50-15); ▲9-12.000 (30-40) |
|
|
Khánh Sủng (thẻ ngâm) |
Tăng giá |
▲3.000 (80) |
▬ |
▬ |
|
Cà Mau |
Cases (thẻ ngâm) |
Tăng giá cỡ lớn |
▲2-3.000 (20-40) |
▲2-4.000 (30-80) |
▲2-8.000 (20-250) |
|
|
Cases (thẻ tươi) |
Ổn định |
▬ |
▲1-3.000 (30-70) |
▲1-2.000 (30-80) |
|
|
Minh Phú (thẻ tươi) |
Ổn định |
▬ |
▼1-6.000 (15-100) |
▼1.000 (45-200) |
|
Bạc Liêu |
Sea Minh Hải (thẻ tươi) |
Tăng giá |
▲2-5.000 (30-70); ▲18-10.000 (20-25) |
▲1-2.000 (20-45) |
▲1-4.000 (20-120) |
|
|
Thái Minh Long (thẻ tươi) |
Tăng giá |
▲1-2.000 (75-110) |
▲1-5.000 (80-90) |
▬ |
Nguồn: AgroMonitor
Các nhà máy gia công cho Trung Quốc cũng tăng giá 1-5.000 đ/kg với tôm cỡ 90-120 con/kg khi nhu cầu mua hàng quay trở lại sau nghỉ Lễ. Trong đó, giá tôm thẻ ao bạt đang được các nhà máy thu mua với giá cao hơn từ 15-21.000 đ/kg so với tôm ao đất. Cụ thể:
Đối với tôm thẻ tươi: Giá tôm ao bạt cỡ 100 con/kg tại các nhà máy Huy Minh, Châu Bá Thảo, Nhật Phượng, Minh Phát, Công Ty 168… tăng từ 88-95.000 đ/kg lên mức 89-96.000 đ/kg; giá tôm ao đất tăng từ 67-74.000 đ/kg lên mức 69-75. Một số nhà máy như Châu Bá Thảo, Huy Minh… vẫn thu mua lai rai thêm cỡ 50 con/kg ở mức 110-118.000 đ/kg (ao bạt).
Đối với tôm thẻ ngâm, giá tôm cỡ 100 con/kg tại các nhà máy Cẩm Vui, Minh Phát, Blue Bay… ở mức tăng từ 64-73.000 đ/kg lên mức 65-75.000 đ/kg (không kiểm tra kháng sinh).
Xu hướng điều chỉnh giá mua tôm thẻ nguyên liệu tại các nhà máy gia công (tăng/giảm - nghìn đồng/kg, cỡ tôm - con/kg) khu vực ĐBSCL, cập nhật ngày 4/9/2024
|
Khu vực |
Nhà máy |
Xu hướng |
1-4/9 |
30-31/8 |
24-29/8 |
|
Sóc Trăng |
Quốc Thanh (thẻ tươi) |
Ổn định |
▬ |
▬ |
▲1.000 (170-200);▼1.000 (140-160) |
|
|
Nhật Phượng (thẻ tươi) |
Tăng giá cỡ nhỏ |
▲1.000 (190-200) |
▬ |
▬ |
|
|
Hoa (thẻ tươi) |
Ổn định |
▬ |
▬ |
▲1-4.000 (80-160); |
|
Bạc Liêu |
Cẩm Vui (thẻ tươi) |
Tăng giá |
3/9:▲1-8.000 (45-160); 4/9:▲1-2.000 (30-60, 120) |
▬ |
▬ |
|
|
Cẩm Vui (thẻ ngâm) |
Tăng giá |
▲1-3.000 (30-110) |
▬ |
▲1-7.000 (25-140) |
|
|
Châu Bá Thảo (thẻ tươi) |
Tăng giá |
▲1-5.000 (A Kiệt: 50-130) |
▬ |
▲1-2.000 (Triệu Vi, A Kiệt, A Bánh: cỡ 40-200) |
|
|
Minh Hiếu (thẻ tươi) |
Ổn định |
▬ |
▲2-10.000 (40-160) |
▬ |
|
|
Huy Minh (thẻ tươi) |
Tăng giá |
▲1-5.000 (2-140) |
▬ |
▲1-2.000 (220-300) |
|
|
Tính Thúy (thẻ tươi) |
Ổn định |
▬ |
▬ |
▲1-2.000 (100-200) |
|
|
Huy Bảo |
Tăng giá |
▲6-8.000 (80-110) |
▬ |
▬ |
|
|
Trang Khanh (thẻ tươi) |
Tăng giá |
▬ |
▬ |
▲2.000 (80-120) |
|
|
Công ty 168 (thẻ tươi) |
Tăng giá |
▲1.000 (90-160) |
▲3-4.000 (100-160) |
▬ |
|
|
Phát Hưng (thẻ tươi) |
Tăng giá cỡ nhỏ |
▲1.000 (140-150) |
▬ |
▲1-2.000 (220-300) |
|
Cà Mau |
Blue Bay (thẻ tươi/ngâm) |
Ổn định |
▬ |
▬ |
▲2-8.000 (ngâm: 30-100) |
|
|
Minh Phát (thẻ ngâm) |
Giảm giá cỡ nhỏ |
▼1-4.000 (cỡ 110-300) |
▲1-9.000 (35-170) |
▬ |
|
|
Minh Phát (thẻ tươi) |
Tăng giá |
▲3.000 (70-100) |
▬ |
▲1.000 (70-100); ▲7-12.000 (20-60) |
|
|
Song Thư (thẻ tươi) |
Tăng giá |
▲3-9.000 (25-120) |
▬ |
▲4-7.000 (30-40) |
|
|
Thuận Đức |
Tăng giá |
▲1-6.000 (30-120) |
▬ |
▬ |
Nguồn: AgroMonitor
Giao dịch tại đầm tôm thẻ ướp đá: Thương lái đang tích cực thu mua tôm thẻ ướp đá khi sức mua tại nội địa chững và các nhà máy thu mua bình thường trở lại. Giá tôm thẻ ướp đá tại đầm ở ĐBSCL tiếp tục tăng 1-3.000 đ/kg so với cuối tháng 8/2024. Trong đó, giá tôm thẻ ướp đá cỡ 30 con/kg ở mức 160-165.000 đ/kg (đạt kháng sinh), cỡ 50 con/kg ở mức 120-122.000 đ/kg (đạt kháng sinh) và 114-117.000 đ/kg (không kiểm tra kháng sinh).
Bảng giá tôm thẻ nguyên liệu (ướp đá) tại đầm Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, nghìn đồng/kg
|
Phân loại: Tôm kiểm kháng sinh, ao bạt và ao đất, không kiểm màu |
|
Xu hướng |
|||
|
Kích cỡ |
4/9 |
30/8 |
29/8 |
28/8 |
Tăng giá cỡ 30-60 con/kg |
|
30 con/kg |
160-165 |
158-162 |
155-158 |
152-155 |
|
|
50 con/kg |
120-122 |
119-121 |
118-120 |
117-119 |
|
|
80 con/kg |
99-101 |
99-101 |
99-101 |
97-99 |
|
|
Phân loại: Tôm không kiểm kháng sinh |
|||||
|
Ao bạt (kén màu) |
Xu hướng |
||||
|
Kích cỡ |
4/9 |
30/8 |
29/8 |
28/8 |
Tăng giá cỡ 50 con/kg về nhỏ |
|
30 con/kg |
- |
- |
- |
- |
|
|
50 con/kg |
115-117 |
114-116 |
112-114 |
110-112 |
|
|
80 con/kg |
97-99 |
96-98 |
96-98 |
95-97 |
|
|
100 con/kg |
89-91 |
88-90 |
88-90 |
88-90 |
|
|
Ao đất (không kiểm màu) |
Xu hướng |
||||
|
Kích cỡ |
4/9 |
30/8 |
29/8 |
28/8 |
Tăng giá cỡ 30-60 con/kg |
|
30 con/kg |
144-148 |
142-145 |
141-143 |
138-140 |
|
|
50 con/kg |
114-116 |
113-115 |
112-114 |
110-112 |
|
|
80 con/kg |
88-90 |
88-90 |
88-90 |
86-88 |
|
|
100 con/kg |
72-74 |
72-74 |
72-74 |
70-72 |
|
Nguồn: AgroMonitor tổng hợp (xem chi tiết từng cỡ trong phụ lục tại Viettraders.com)
Giao dịch tại đầm tôm thẻ oxy: Giao dịch tôm thẻ oxy tương đối sôi động trong các ngày 1-3/9 nghỉ Lễ trùng vào cuối tuần. Trong ngày 4/9, mặc dù sức mua tại nội địa chững lại, nhưng nguồn cung tôm thẻ cỡ lớn 20-30 con/kg ở mức thấp nên vẫn hỗ trợ giá. Cụ thể, giá tôm thẻ oxy cỡ 20-30 con/kg tại đầm đã tăng khoảng 3.000 đ/kg so với cuối tháng 8/2024, cỡ 20 con/kg ở mức 200.000 đ/kg, cỡ 30 con/kg ở mức 165-168.000 đ/kg. Trong khi đó, các kích cỡ khác vẫn giữ ở mức cao, cỡ 50 con/kg ở mức 120-125.000 đ/kg (không kiểm màu) và 122-127.000 đ/kg (màu đậm, đều cỡ).
Giá tôm thẻ oxy cỡ 20-25 con/kg cao hơn 5-13.000 đ/kg, cỡ 30-80 con/kg cao hơn 3-8.000 đ/kg so với tôm thẻ ướp đá (đạt kháng sinh).
Bảng giá tôm thẻ oxy tại đầm tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, nghìn đồng/kg
|
Phân loại: Tôm ao đất/bạt, không kiểm màu, không kiểm tra kháng sinh |
Xu hướng |
||||
|
Kích cỡ |
4/9 |
30/8 |
29/8 |
28/8 |
Tăng giá cỡ 20-30 con/kg |
|
Cỡ 20 con/kg |
200 |
195-200 |
190-195 |
185-190 |
|
|
Cỡ 30 con/kg |
165-168 |
162-165 |
160-165 |
157-160 |
|
|
Cỡ 50 con/kg |
120-125 |
120-125 |
120-125 |
120-125 |
|
|
Phân loại: Tôm màu đẹp (luộc lên màu đỏ 7,6/10 hoặc A3 trở lên), ao đất/bạt, không kiểm tra kháng sinh |
Xu hướng |
||||
|
Kích cỡ |
4/9 |
30/8 |
29/8 |
28/8 |
Giá tạm chững |
|
Cỡ 50 con/kg |
122-127 |
122-127 |
122-127 |
122-127 |
|
|
Cỡ 60 con/kg |
112-117 |
112-117 |
112-117 |
112-117 |
|
|
Cỡ 70 con/kg |
105-110 |
105-110 |
105-110 |
105-110 |
|
Nguồn: AgroMonitor tổng hợp, xem chi tiết từng cỡ trong phụ lục tại Viettraders.com
+ Thị trường tôm sú nguyên liệu tại ĐBSCL ngày 4/9:
Một số nhà máy chế biến tại ĐBSCL đã tăng giá tôm sú nguyên liệu từ 1-10.000 đ/kg để hút hàng sau khi nghỉ Lễ 2/9. Tuy nhiên, lượng mua thu mua nguyên liệu của các nhà máy vẫn ở mức lai rai. Giá tôm sú ướp đá tại đầm các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu tạm chững sau khi tăng 2-4.000 đ/kg vào cuối tháng 8 (30-31/8). Đối với tôm oxy, trong các ngày 1-3/9, giá tôm cỡ 50 con/kg vẫn giữ ổn định nhờ sức mua nội đại ở mức cao trong dịp Lễ 3/9, tuy nhiên trong sáng 4/9 giá tôm cỡ 20 con/kg đã giảm khoảng 15.000 đ/kg.
Trên thị trường tôm sú nguyên liệu, lượng giao dịch tại các nhà máy chế biến ở ĐBSCL tăng nhẹ so với cuối tuần trước nhưng vẫn ở mức thấp. Tại nhà máy Minh Phú, lượng thu mua tôm sú trong ngày 4/9 ở mức 25 tấn/ngày, tăng so với mức 10-12 tấn/ngày trước khi nghỉ Lễ 2/9. Hầu hết các nhà máy gia công cho Trung Quốc thu mua dưới 10-15 tấn/ngày. Tại nhà máy Sao Ta, lượng thu mua tôm công nghiệp ở mức 4-6 tấn/ngày.
Một số nhà máy gia công cho Trung Quốc đã tăng giá 1-10.000 đ/kg để thu hút nguyên liệu sau kỳ nghỉ Lễ. Trong kh đó, giá tại các nhà máy lớn nhìn chung ít biến động so với cuối tháng 8/2024. Cụ thể:
- Tại các nhà máy gia công cho Trung Quốc: Giá tôm sú ngâm tại nhà máy Cẩm Vui, Toàn tăng 1-10.000 đ/kg so với cuối tháng 8/2024. Các nhà máy gia công hiện thu mua cỡ 30 con/kg ở mức 122-135.000 đ/kg (công nghiệp/quảng canh, không kiểm kháng sinh).
Đối với tôm sơ chế/bán thành phẩm: nhà máy Bạch Linh tăng giá 2.000 đ/kg cỡ 26/30, giá tôm cỡ 26/30 tăng lên mức 217-222.000 đ/kg (công nghiệp/quảng canh).
Đối với tôm sú tươi, các nhà máy Minh Cường, Trang Khanh, Quốc Thanh… tiếp tục thu mua cỡ 30 con/kg ở mức 146-160.000 đ/kg, cỡ 50 con/kg ở mức 120-129.000 đ/kg (tôm quảng canh, không kiểm tra kháng sinh).
- Tại các nhà máy lớn: Nhà máy Minh Phú, Sao Ta, Khánh Sủng giữ giá thu mua tôm sú tươi cỡ 30 con/kg ở mức 160-172.000 đ/kg (đạt kháng sinh).
Xu hướng điều chỉnh giá mua tôm sú nguyên liệu tại các nhà máy (tăng/giảm - nghìn đồng/kg, cỡ tôm - con/kg) khu vực ĐBSCL, cập nhật ngày 4/9/2024
|
Khu vực |
Nhà máy |
Xu hướng |
1-4/9 |
28-30/8 |
20-27/8 |
17-19/8 |
|
Bạc Liêu |
Bạch Linh (sú oxy) |
Ổn định |
▬ |
▬ |
▬ |
▲5.000 (cỡ 33-34) |
|
|
Bạch Linh (sú tươi) |
Ổn định |
▬ |
▬ |
▬ |
▬ |
|
|
Bạch Linh (sú HLSO) |
Tăng giá |
▲2.000 (cỡ 26/30) |
▬ |
▲2-10.000 (cỡ 21/25-31/35) |
▲5-15.000 (cỡ 21/25-31/40) |
|
|
Huy Bảo (sú ngâm) |
Ổn định |
▬ |
▬ |
▬ |
▬ |
|
|
Cẩm Vui (sú ngâm) |
Tăng giá |
▲1-10.000 (cỡ 15-80) |
|
|
|
|
Sóc Trăng |
Toàn (sú ngâm) |
Tăng giá |
▲1-7.000 (cỡ 30-180) |
▬ |
▼1-2.000 (cỡ 60-70) |
▬ |
|
|
Sao Ta (sú HLSO) |
Ổn định |
▬ |
▬ |
▬ |
▬ |
|
|
Sao Ta (sú tươi) |
Ổn định |
▬ |
▬ |
▬ |
▬ |
|
|
Khánh Sủng (sú tươi) |
Tăng giá |
▬ |
▲5-15.000 (cỡ 30-100) |
|
|
|
|
Quốc Thanh (sú tươi) |
Ổn định |
▬ |
29/8:▼2-3.000 (cỡ 40-80); 30/8:▼1.000 (cỡ 40-80) |
▬ |
▬ |
|
Cà Mau |
Minh Phú (sú oxy, sú HLSO) |
Ổn định |
▬ |
▬ |
▲2-3.000 (cỡ 4-200, 2/4-100/200) |
▼2.000 (cỡ 60-200; 41/50-100/200) |
|
|
Minh Cường (sú tươi) |
Ổn định |
▬ |
▬ |
▬ |
▬ |
Nguồn: AgroMonitor
Đối với giao dịch tại đầm, giá tôm sú ướp đá tại các tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau nhìn chung ít biến động so với cuối tháng 8, trong đó cỡ 30 con/kg ở mức 140-145.000 đ/kg, cỡ 50 con/kg ở mức 113-115.000 đ/kg (không kiểm tra kháng sinh).
Bảng giá tôm sú nguyên liệu tại đầm Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, nghìn đồng/kg
|
Phân loại: Tôm sú ướp đá |
Xu hướng |
|||||
|
Kích cỡ |
4/9 |
30/8 |
26-29/8 |
19-23/8 |
12-16/8 |
|
|
20 con/kg |
175-180 |
175-180 |
175 |
175 |
175 |
Tạm chững so với cuối tháng 8/2024 |
|
30 con/kg |
140-145 |
140-145 |
137-140 |
137-140 |
137-140 |
|
|
40 con/kg |
120 |
120 |
117-120 |
117-120 |
117-120 |
|
|
50 con/kg |
113-115 |
113-115 |
108-115 |
108-115 |
108-115 |
|
Nguồn: AgroMonitor tổng hợp (xem chi tiết từng cỡ trong phụ lục tại Viettraders.com)
Đối với tôm sú oxy, trong các ngày 1-3/9 (trùng nghỉ Lễ Quốc khánh), giá tôm sú oxy cỡ 50 con/kg về lớn tại đầm ở ĐBSCL vẫn giữ ở mức tương đương cuối tháng 8/2024 do được hỗ trợ bởi sức mua nội địa tăng. Tuy nhiên, trong sáng 4/9, giá tôm cỡ 20 con/kg đã giảm 10-15.000 đ/kg xuống mức 230-240.000 đ/kg, trong khi đó cỡ 30-50 con/kg vẫn ổn định, lần lượt ở mức 180-190.000 đ/kg và 120-130.000 đ/kg (tôm màu đậm, đều cỡ).
Bảng giá tôm sú oxy tại đầm Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, nghìn đồng/kg
|
Phân loại: Tôm sú oxy (màu đậm, đều cỡ) |
Xu hướng |
|||||
|
Kích cỡ |
4/9 |
30/8 |
28-29/8 |
27/8 |
20-26/8 |
|
|
20 con/kg |
230-240 |
245-255 |
240-250 |
230-250 |
230-240 |
Giảm giá cỡ 20 con/kg |
|
30 con/kg |
180-190 |
180-190 |
180-185 |
170-180 |
170-175 |
|
|
40 con/kg |
135-145 |
135-145 |
130-140 |
130-140 |
130 |
|
|
50 con/kg |
120-130 |
120-130 |
120 |
120 |
120 |
|
Nguồn: AgroMonitor tổng hợp (xem chi tiết từng cỡ trong phụ lục tại Viettraders.com)
Tin thế giới
+ Ngày 3/9, giá tôm thẻ nguyên liệu tại Thái Lan không đổi với tất cả kích cỡ. Cụ thể, giá tôm thẻ cỡ 40 con/kg ở mức 175 baht/kg, cỡ 70 con/kg ở mức 140 baht/kg, cỡ 100 con/kg ở mức 115 baht/kg.
Giá tôm thẻ chân trắng tại trang trại ở Thái Lan, Baht/kg
|
Kích cỡ |
3/9 |
2/9 |
30/8 |
29/8 |
28/8 |
|
40 con/kg |
175 |
175 |
175 |
175 |
175 |
|
50 con/kg |
155 |
155 |
160 |
160 |
160 |
|
60 con/kg |
145 |
145 |
145 |
145 |
145 |
|
70 con/kg |
140 |
140 |
135 |
135 |
135 |
|
80 con/kg |
125 |
125 |
125 |
125 |
125 |
|
90 con/kg |
115 |
115 |
115 |
115 |
115 |
|
100 con/kg |
115 |
115 |
115 |
115 |
115 |
Nguồn: AgroMonitor tổng hợp (1 Baht = 724 VND)
+ Ngày 2/9, giá tôm thẻ tại Indonesia tiếp tục tăng với tất cả kích cỡ. Cụ thể: Giá tôm thẻ cỡ 40 con/kg, cỡ 70 con/kg và cỡ 100 con/kg tăng 2.000-3.000 IDR/kg, lần lượt đạt mức 77.000 IDR/kg, 63.000 IDR/kg và 54.000 IDR/kg.
+ Ngày 2/9, giá tôm thẻ tại Andhra Pradesh, Ấn Độ tiếp tục tạm chững với tất cả kích cỡ. Cụ thể: Giá tôm thẻ cỡ 40 con/kg, cỡ 70 con/kg và cỡ 100 con/kg đi ngang, lần lượt đạt mức 4,44 USD/kg, 3,51 USD/kg và 3,04 USD/kg.
+ Ngày 2/9, giá tôm thẻ tại Ecuador không đổi với tất cả kích cỡ. Cụ thể: Giá tôm thẻ cỡ 40 con/kg, cỡ 70 con/kg và cỡ 100 con/kg đi ngang, lần lượt đạt mức 3,23 USD/kg, 2,74 USD/kg và 1,96 USD/kg.
+ Ngày 1/9, giá tôm thẻ tại Trung Quốc tạm chững ở mức cao, thị trường ít biến động. Cụ thể: giá tôm thẻ cỡ 80 con/kg tại tỉnh Quảng Đông ở mức 37 NDT/kg, giữ ổn định so với cuối tháng 8. Giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg tại tỉnh Phúc Kiến có mức 33 NDT/kg, không đổi so với hôm 23/8.
+ Theo dữ liệu mới do 210 Analytics đưa ra, hải sản bảo quản được tiếp tục bán chạy tại các cửa hàng bán lẻ ở Hoa Kỳ trong quý 2/2024, trong khi lượng bán hàng đông lạnh và tươi sống đều giảm trong suốt thời gian này. Doanh số bán cá ngừ tăng là yếu tố chính đóng góp vào tăng trưởng ổn định của hải sản bảo quản trong quý. Lượng bán cá ngừ tăng 5,2%, trong khi doanh thu tăng 3%. Lượng bán cá hồi cũng tăng 7,8%, nhưng doanh thu vẫn giữ nguyên. Nhìn chung, lượng bán hải sản bảo quản tăng 4,7% và doanh thu tăng 2,2% lên 821 triệu USD (741 triệu EUR) trong quý 2/2024.
+ Theo số liệu từ Eurostat, trong tháng 6/2024, nhập khẩu tôm của khu vực EU 27 (không bao gồm Anh) đạt 41,1 nghìn tấn, trị giá 262,1 triệu EUR, giảm 4% về lượng và 13% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lượng nhập khẩu giảm chủ yếu từ các thị trường Bangladesh (-50%), Ma-rốc (-30%), Greenland (-25%), Madagascar (-50%) với lượng giảm từ 360-570 tấn. Trong khi đó, nhập khẩu từ nhóm 5 thị trường cung cấp chính vẫn ghi nhận tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, Ecuador dẫn đầu với 16,1 nghìn tấn tăng 4% so với cùng kỳ năm trước, theo sau là các thị trường Ấn Độ đạt 5,2 nghìn tấn (+2%), Việt Nam đạt 3,9 nghìn tấn (+21%), Venezuela đạt 3,7 nghìn tấn (+2%), Argentina đạt 2,9 nghìn tấn (+43%).