Trên thị trường quốc tế: Giá tôm nguyên liệu giảm, luồng thương mại xuất khẩu đầu năm nay đang hướng về thị trường Châu Á.
Tuần này, giá tôm thẻ nguyên liệu giảm tại hầu hết nước xuất khẩu lớn đặc biệt Ấn Độ (3 tuần giảm giá liên tiếp) và Ecuador đi ngang. Cụ thể, giá tôm thẻ tại Ấn Độ và Thái Lan tiếp tục giảm 0,01-0,43 USD/kg, đáng chú ý là giá tại Ấn Độ đã giảm 3 tuần liên tiếp khi nguồn cung tăng dần kể từ đầu tháng 3. Ngoài ra, giá tôm thẻ tại Trung Quốc cũng ghi nhận giảm tuần thứ 3 liên tiếp ở mức 0,1-0,43 USD/kg khi nhu cầu tiêu thụ nội địa vẫn ở mức thấp, tồn kho cao do tỷ lệ nuôi tôm đạt cỡ thương phẩm trong vụ đầu năm 2026 được cải thiện. Trong khi đó, giá tôm thẻ tại một số thị trường cung cấp lớn như Ecuador, Indonesia tạm chững so với tuần trước.
Nhập khẩu tôm khu vực Châu Á tăng, trong 2 tháng đầu năm 2026 nổi bật là Trung Quốc tăng 26% và Hàn Quốc tăng 23% so với cung kỳ năm trước. Nhưng ngược lại khá chậm ở thị trường Mỹ.
Cụ thể, nhập khẩu tôm của Trung Quốc trong 2 tháng năm 2026 đạt 183,42 nghìn tấn, trị giá 979,17 triệu USD, tăng 26,01% về lượng và tăng 21,05% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, Ecuador là thị trường xuất khẩu lớn nhất vào Trung Quốc với 129,04 nghìn tấn, trị giá 627,77 triệu USD, tăng 28,88% về lượng và tăng 20,14% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Ấn Độ xếp thứ 2 và Greenland xếp vị trí thứ 3 với lượng đạt tương ứng 22,55 nghìn tấn (+40,82%); 5,22 nghìn tấn (+76,62%). Việt Nam xuất khẩu 4,91 nghìn tấn (+31,62%), xếp vị trí thứ 4.
Trong 2 tháng đầu năm 2026, Hàn Quốc đã nhập khẩu 18,31 nghìn tấn tôm, trị giá 128,7 triệu USD, tăng 23% về lượng và 17% về kim ngạch so với năm trước. 3 thị trường cung cấp lớn nhất lần lượt là Việt Nam, Trung Quốc và Peru. Trong đó, nhập khẩu từ Việt Nam tăng 37% so với năm 2025 lên mức 9,09 nghìn tấn; Trung Quốc tăng 44% lên mức 4,67 nghìn tấn; Peru tăng 30% lên mức 1,12 nghìn tấn.
Xuất khẩu tôm của Ấn độ giảm mạnh đi thị trường Mỹ: Theo số liệu Hải quan Ấn Độ, trong tháng 1/2026, lượng xuất khẩu tôm đạt 51,54 nghìn tấn, trị giá 352,37 triệu USD, tăng 4% về lượng nhưng giảm 1% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu sang thị trường Mỹ dẫn đầu nhưng giảm 36% so với cùng kỳ năm trước xuống còn 13,89 nghìn tấn.
Diễn biến giá tôm thẻ tại trang trại bang Andhra Pradesh (Ấn Độ), USD/kg

Nguồn: AgroMonitor
Lượng (nghìn tấn) và trị giá (triệu USD) nhập khẩu tôm (mã HS 030616, 030617, 030635, 030636, 030695, 160521, 160529) của Trung Quốc năm 2024-2025

Nguồn: Hải quan Trung Quốc
Nhập khẩu tôm của Hàn Quốc từ 2025-2026 (nghìn tấn, triệu USD)

Nguồn: Hải quan Hàn Quốc (tính theo các mã HS 030616, 030617, 030635, 030636, 030695, 160521, 160529)
Tại Việt Nam: Xuất khẩu tăng, nhập khẩu giảm trong những tháng đầu năm 2026. Giá tôm thẻ nguyên liệu trong tuần cuối tháng 3 tạm chững đà giảm liên tiếp từ đầu tháng và bình quân T3/2026 giá tôm giảm khoảng 15% so với cùng kỳ năm trước.
Trong 17 ngày tháng 3/2026, xuất khẩu tôm của Việt Nam đạt 17,04 nghìn tấn, trị giá 185,81 triệu USD, tăng 18% về lượng và 15% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu tôm thẻ đạt 13,33 nghìn tấn (+21%), trị giá 112,02 triệu USD (+14%), tôm sú đạt 1,3 nghìn tấn (+9,5%) và 17,49 triệu USD (+22%).
Đối với tôm thẻ, lượng xuất khẩu sang khu vực Đông Á đạt 6,29 nghìn tấn (+47%), trong đó lượng giao hàng đi thị trường Trung Quốc đạt 2,35 nghìn tấn (+98%, +1,12 nghìn tấn so với cùng kỳ năm trước), Hàn Quốc đạt 1,71 nghìn tấn (+43%), Nhật Bản đạt 1,52 nghìn tấn (+6% so với cùng kỳ năm trước), khu vực EU đạt 2,79 nghìn tấn (+8%). Ngược lại, lượng xuất khẩu sang khu vực Bắc Mỹ đạt 2,08 nghìn tấn (-23%), trong đó lượng giao hàng đi thị trường Mỹ đạt 1,45 nghìn tấn (-32%).
Nhập khẩu tôm của Việt Nam tháng 2/2026 giảm so với cùng kỳ năm trước, đây là lần đầu tiên giảm kể đầu năm 2025.
Cụ thể, tháng 2/2026, nhập khẩu tôm đạt 4,9 nghìn tấn, trị giá 31,9 triệu USD, giảm 21% về lượng và 37% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhập khẩu tôm thẻ đạt 4,1 nghìn tấn và 5,5 triệu USD, giảm 25% về lượng và 30% về kim ngạch so với cùng kỳ 2025. Lượng nhập khẩu tôm thẻ nguyên liệu giảm 29% so với cùng kỳ 2025 và giảm 42% so với tháng 1/2026 xuống mức 3,6 nghìn tấn do trùng vào nghỉ Tết Nguyên đán (16-21/2). Xét theo kích cỡ, tỷ trọng tôm thẻ nguyên liệu cỡ 8/12-41/50 tiếp tục duy trì ở mức cao kể từ đầu năm 2026 (67-69%) để bù đắp cho nguồn cung trong nước khan hiếm trong giai đoạn trái vụ.
Trong tuần này, các nhà máy bắt tôm thẻ tươi cỡ 50 con/kg với giá dao động từ 115.000-133.000 đ/kg. Trong khi đó, giá tôm thẻ ướp đá tại đầm nhìn chung ít biến động so với tuần trước, các thương lái đang chịu áp lực về chi phí khi cước xe chở hàng tăng khoảng 15-20% so với cuối tháng 2 nên khó có thể tăng giá tương đương như mức tăng của các nhà máy chế biến. Tại Cà Mau/Bạc Liêu, Sóc Trăng, trong tuần này thương lái vẫn thu mua tôm thẻ ướp đá cỡ 50 con/kg ở mức 123.000 đ/kg (đạt kháng sinh).
So với cùng kỳ năm trước, giá hầu hết kích cỡ đều đã sụt giảm khá mạnh, trong đó cỡ 30-50 con/kg giảm 13-16% (17.000-25.000 đ/kg), cỡ 60-80 con/kg giảm 3-13% (3.000-17.000 đ/kg), riêng cỡ 90-120 con/kg tăng nhẹ 3-5% (3.000-4.000 đ/kg).
Áp lực chi phí nuôi tôm bắt đầu tăng khi chuẩn bị bước vào đầu vụ 1 khi giá các sản phẩm đầu vào cũng đang tăng như giá thức ăn, giá thuốc và giá tôm giống.
+ Giá thức ăn tôm bắt đầu tăng từ đầu tháng 3/2026: Do ảnh hưởng của xung đội tại Trung Đông làm làm giới hạn nguồn cung và tăng giá nguyên liệu sản xuất, các công ty Thăng Long, Grobest, Haid, Yuehai, C.P… đã lần lượt thông báo tăng giá bán lẻ thức ăn tôm từ 800-2.000 đ/kg so với cuối tháng 2 (trong đó giá thức ăn tăng trọng/độ đạm cao trên 42% có mức tăng nhiều nhất 2.000 đ/kg).
+ Cuối tháng 3, nhiều công ty cũng đã thông báo tăng giá thuốc thủy sản từ 2.000-5.000 đ/kg, trong đó Thăng Long tăng khoảng 5.000 đ/kg. Có tin đồn từ cuối tháng 3, nhiều công ty/trại giống cũng tăng giá tôm thẻ giống từ 5-7 đ/post, tuy nhiên hiện chỉ có CT TS Công Nghệ Cao (C.P) có thông báo chính thức.
Lượng và kim ngạch nhập khẩu tôm thẻ làm nguyên liệu sản xuất của Việt Nam tháng 1/2025-2/2026 (nghìn tấn, triệu USD)

Kết luận và Triển vọng:
Xu hướng 3 tháng đầu năm nay: thị trường Châu á nhập tăng, thị trường Mỹ, Bắc Mỹ, chậm. Các nước sản xuất và xuất khẩu tôm lớn đều hạ giá so với năm ngoái để cạnh tranh xuất khẩu.
Trong khi đó tại Việt Nam, giá tôm thẻ nguyên liệu giảm mạnh trong tháng 3/2026 và dài hơn là 1 giai đoạn giảm giá liên tiếp 9 tuần đang hỗ trợ hạ giá xuất khẩu để cạnh tranh hơn so với năm ngoái.
Để làm được điều đó, triển vọng nguồn cung tôm thẻ năm nay đang tăng lên so với năm ngoái do dự kiến thả mới tích cực hơn trong tháng 3 và tiếp diến từ tháng 4 do năm nay không ảnh hưởng mưa trái mùa, dịch bệnh ít hơn (năm ngoái mưa trái mùa liên tục, thả chậm, tỷ lệ xả bỏ cao, dịch bệnh cao). Điều này cũng phản ánh hệ quả xu hướng nhập khẩu tôm thẻ nguyên liệu về làm tái chế biến xuất khẩu giảm mạnh trong tháng 2/2026.
Dự kiến triển vọng cải thiện về nguồn cung nguyên liệu tôm thẻ tại ĐBSCL sẽ khiến tình hình xuất khẩu tôm của Việt nam trong tháng 4/2026 diễn biến khả quan hơn. Song tại những thị trường lớn cũng đang cho thấy những tín hiệu trái chiều và có những vấn đề riêng không chỉ phụ thuộc vào đơn thuần cạnh tranh giá bán.
Cụ thể như đối với thị trường Trung Quốc, các thương nhân đang hỏi mua hàng trở lại và bên cạnh các sản phẩm truyền thống (PD), nhu cầu cho đơn hàng giá trị gia tăng cũng cải thiện.
Nhưng đối với thị trường EU, một số tuyến tàu đi thị trường châu Âu đang bị siết năng lực vận chuyển do xung đột tại Trung Đông, có khả năng ảnh hưởng đến giá và thời gian giao hàng.