1. Thị trường Thái Lan
Tại Thái Lan, giá tôm thẻ nguyên liệu giảm 5-20 baht/kg với tất cả kích cỡ so với tuần trước. Thị trường Thái Lan đóng cửa, bắt đầu nghỉ lễ từ ngày 13-16/4.
Giá tôm thẻ chân trắng tại trang trại ở Thái Lan, Baht/kg
|
Kích cỡ |
10/4 |
9/4 |
8/4 |
TB tuần 13 |
TB tuần 12 |
Thay đổi |
|
40 con/kg |
160 |
160 |
165 |
160 |
165 |
-5 |
|
50 con/kg |
130 |
150 |
150 |
130 |
150 |
-20 |
|
60 con/kg |
120 |
130 |
135 |
120 |
135 |
-15 |
|
70 con/kg |
115 |
120 |
120 |
115 |
120 |
-5 |
|
80 con/kg |
105 |
110 |
110 |
105 |
110 |
-5 |
|
90 con/kg |
90 |
100 |
100 |
90 |
100 |
-10 |
|
100 con/kg |
90 |
95 |
95 |
90 |
95 |
-5 |
Nguồn: AgroMonitor tổng hợp
Diễn biến giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg tại trang trại Thái Lan, baht/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp
2. Thị trường Trung Quốc
Ngày 10/4, giá tôm thẻ tại Trung Quốc tăng nhẹ trở lại nhưng mức tăng còn hạn chế. Tình trạng dư cung vẫn chưa được cải thiện dù giá có cải thiện nhờ kỳ nghỉ Thanh Minh. Cụ thể: giá tôm thẻ cỡ 80 con/kg tại tỉnh Quảng Đông ở mức 21-23 NDT/kg, tăng 1 NDT/kg so với đầu tháng 4. Giá tôm thẻ cỡ 60 con/kg tại tỉnh Phúc Kiến có mức 30 NDT/kg, tăng 2 NDT/kg so với hôm 3/4.
Giá tôm thẻ tại tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) tháng 4/2026, NDT/kg
|
Huyện/Tỉnh |
Ngày |
60 con/kg |
80 con/kg |
100 con/kg |
120 con/kg |
|
Sán Đầu, Quảng Đông |
10/04/2026 |
28 |
21 |
14 |
10 |
|
|
03/04/2026 |
28 |
20 |
14 |
8 |
|
Trạm Giang, Quảng Đông |
10/04/2026 |
30 |
23 |
||
|
|
03/04/2026 |
30 |
22 |
||
|
Giang Môn, Quảng Đông |
10/04/2026 |
23 |
|||
|
|
03/04/2026 |
21 |
Nguồn: AgroMonitor tổng hợp
Giá tôm thẻ tại tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) tháng 4/2026, NDT/kg
|
Huyện/Tỉnh |
Ngày |
60 con/kg |
80 con/kg |
100 con/kg |
|
Long Hải, Chương Châu, Phúc Kiến |
10/04/2026 |
30 |
22 |
14 |
|
|
03/04/2026 |
28 |
21 |
13 |
Nguồn: AgroMonitor tổng hợp
Giá tôm thẻ tại tỉnh Hải Nam (Trung Quốc) tháng 4/2026, NDT/kg
|
Huyện/Tỉnh |
Ngày |
80 con/kg |
100 con/kg |
120 con/kg |
|
Quỳnh Hải, Hải Nam |
10/04/2026 |
21 |
14 |
9 |
|
|
03/04/2026 |
20 |
13 |
8 |
Nguồn: AgroMonitor tổng hợp
3. Thị trường Indonesia
Ngày 13/4, giá tôm thẻ tại Indonesia giảm với cỡ lớn, trong khi giữ ổn định với các kích cỡ còn lại. Cụ thể: Giá tôm thẻ cỡ 40 con/kg giảm 2.000 IDR/kg, lần lượt đạt mức 71.000 IDR/kg; giá cỡ 70 con/kg và cỡ 100 con/kg không đổi, lần lượt đạt mức 66.000 IDR/kg và 60.000 IDR/kg.
Diễn biến giá tôm thẻ tại trang trại Indonesia, IDR/kg

Nguồn: AgroMonitor
Theo Tổng cục Thống kê Indonesia (BPS), trong tháng 2/2026, lượng xuất khẩu tôm đạt 16,5 nghìn tấn, trị giá 149,01 triệu USD, giảm 19% về lượng và 9% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lượng xuất khẩu giảm tại các thị trường: Mỹ đạt 9,45 nghìn tấn (-23%), Nhật Bản đạt 2,48 nghìn tấn (-12%), Trung Quốc đạt 1,44 nghìn tấn (-2%),... Cùng xu hướng đó, lượng xuất khẩu đi khu vực EU giảm 33% so với cùng kỳ năm trước xuống mức 668 tấn.
Trong 2 tháng đầu năm 2026, Indonesia đã xuất khẩu 34,29 nghìn tấn tôm, trị giá 311,03 triệu USD, giảm 12% về lượng và 1% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu sang Mỹ vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất (chiếm 57%) nhưng giảm so với năm trước xuống mức 19,49 nghìn tấn (-18%). Trái lại, xuất khẩu sang một số thị trường ở Châu Á ghi nhận tăng trưởng dương như ở Trung Quốc đạt 2,99 nghìn tấn (+12%), Malaysia đạt 2,07 nghìn tấn (+10%), Singapore đạt 1,23 nghìn tấn (+17%),… Lượng xuất khẩu sang khu vực EU giảm 24% so với cùng kỳ năm 2025 xuống mức 1,37 nghìn tấn, chủ yếu do tăng xuất khẩu sang thị trường Hà Lan.
Lượng và kim ngạch xuất khẩu tôm của Indonesia từ tháng 1/2025-2/2026 (nghìn tấn, triệu USD)

Nguồn Thống kê Indonesia (tính theo các mã HS 030616, 030617, 030635, 030636, 030695, 160521, 160529)
Top 10 thị trường xuất khẩu tôm lớn nhất của Indonesia tháng 2/2026 so với cùng kỳ năm 2025 (tấn, triệu USD)
|
|
T2/2026 |
T2/2025 |
% thay đổi |
|||
|
Thị trường |
Lượng, tấn |
Trị giá, triệu USD |
Lượng, tấn |
Trị giá, triệu USD |
Lượng |
Trị giá, triệu USD |
|
United States |
9,452 |
94.37 |
12,274 |
103.01 |
-22.99 |
-8.39 |
|
Japan |
2,478 |
23.16 |
2,806 |
26.12 |
-11.69 |
-11.36 |
|
China |
1,444 |
10.33 |
1,469 |
10.05 |
-1.70 |
2.85 |
|
Malaysia |
751 |
2.43 |
968 |
1.91 |
-22.40 |
27.26 |
|
Singapore |
595 |
2.28 |
494 |
1.78 |
20.46 |
27.99 |
|
Netherlands |
247 |
2.67 |
542 |
3.56 |
-54.43 |
-24.95 |
|
Taiwan |
243 |
1.98 |
270 |
2.31 |
-10.17 |
-14.34 |
|
United Kingdom |
177 |
1.52 |
113 |
0.91 |
56.42 |
66.65 |
|
Viet Nam |
160 |
1.09 |
60 |
0.55 |
166.13 |
97.94 |
|
Korea Republic |
146 |
1.21 |
120 |
0.97 |
20.85 |
24.15 |
|
Khác |
809 |
7.98 |
1,338 |
13.09 |
-39.58 |
-39.07 |
|
Tổng |
16,500 |
149.01 |
20,455 |
164.26 |
-19.33 |
-9.29 |
Nguồn: Thống kê Indonesia (tính theo các mã HS 030616, 030617, 030635, 030636, 030695, 160521, 160529)
Top 10 thị trường xuất khẩu tôm lớn nhất của Indonesia 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025 (tấn, triệu USD)
|
|
2T/2026 |
2T/2025 |
% thay đổi |
|||
|
Thị trường |
Lượng, tấn |
Trị giá, triệu USD |
Lượng, tấn |
Trị giá, triệu USD |
Lượng |
Trị giá, triệu USD |
|
United States |
19,494 |
198.86 |
23,807 |
199.66 |
-18.11 |
-0.40 |
|
Japan |
4,787 |
45.34 |
5,270 |
48.66 |
-9.18 |
-6.83 |
|
China |
2,995 |
21.11 |
2,674 |
19.66 |
11.99 |
7.39 |
|
Malaysia |
2,071 |
6.63 |
1,877 |
3.59 |
10.34 |
84.84 |
|
Singapore |
1,226 |
5.02 |
1,050 |
3.59 |
16.84 |
40.10 |
|
Netherlands |
530 |
5.30 |
953 |
6.34 |
-44.39 |
-16.33 |
|
Taiwan |
509 |
4.41 |
480 |
4.13 |
6.07 |
6.78 |
|
Viet Nam |
333 |
2.56 |
106 |
0.83 |
213.92 |
207.61 |
|
United Kingdom |
315 |
2.69 |
202 |
1.61 |
55.82 |
67.24 |
|
Canada |
300 |
2.58 |
815 |
7.92 |
-63.21 |
-67.40 |
|
Khác |
1,735 |
16.52 |
1,903 |
17.20 |
-8.84 |
-3.96 |
|
Tổng |
34,295 |
311.03 |
39,138 |
313.18 |
-12.37 |
-0.69 |
Nguồn: Thống kê Indonesia (tính theo các mã HS 030616, 030617, 030635, 030636, 030695, 160521, 160529)
4. Thị trường Ấn Độ
Ngày 13/4, giá tôm thẻ tại Andhra Pradesh, Ấn Độ tăng với tất cả kích cỡ. Cụ thể: Giá tôm thẻ cỡ 40 con/kg, cỡ 70 con/kg và cỡ 100 con/kg tăng 0,11-0,12 USD/kg, lần lượt đạt mức 3,82 USD/kg, 3,19 USD/kg và 2,76 USD/kg.
Diễn biến giá tôm thẻ tại trang trại bang Andhra Pradesh (Ấn Độ), USD/kg

Nguồn: AgroMonitor
5. Thị trường Ecuador
Ngày 13/4, giá tôm thẻ tại Ecuador đi ngang với tất cả kích cỡ. Cụ thể: Giá tôm thẻ cỡ 40 con/kg, cỡ 70 con/kg và cỡ 100 con/kg không đổi, lần lượt đạt mức 3,1 USD/kg, 2,55 USD/kg và 1,9 USD/kg.
Diễn biến giá tôm thẻ tại trang trại Ecuador, USD/kg

Nguồn: AgroMonitor
6. Thị trường Mỹ
Ngày 31/1/2026, Phòng Thương mại Hoa Kỳ đã khởi động các cuộc điều tra chống bán phá giá giai đoạn từ 1/2/2025-31/1/2026 (POR21) đối với 199 công ty Trung Quốc, 394 công ty Ấn Độ, 299 công ty Việt Nam và 199 công ty Thái Lan; kết quả đánh giá sẽ được công bố trước ngày 28/2/2027. Đến ngày 8/4/2026, Phòng Thương mại Hoa Kỳ đã hủy bỏ điều tra thuế chống bán phá giá với 286 công ty Ấn Độ, 108 công ty còn lại của Ấn Độ vẫn tiếp tục trong diện điều tra.
Theo dữ liệu mua sắm hải sản và hàng tạp hóa bán lẻ mới, lượng bán hải sản tiếp tục giảm trong mùa Chay quan trọng, và các nhà bán lẻ hiện đang hướng tới Lễ Phục Sinh. Ông Chris DuBois, Phó Chủ tịch cấp cao của Circana cho biết mối lo ngại của người Mỹ về giá xăng cao và lạm phát hàng tạp hóa được phản ánh qua lượng bán lẻ thấp hơn trong mùa Chay. Đồng thời, dự báo về chi tiêu hàng tạp hóa cho Lễ Phục Sinh sẽ khả quan hơn.
Một cuộc khảo sát của Circana về những mối quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng vào tháng 1 cho thấy khả năng chi trả thực phẩm là mối quan tâm lớn nhất, vượt xa các vấn đề khác. Do những lo ngại chung về kinh tế, lượng hải sản bán ra giảm trong mùa Chay này, trong khi doanh thu lại cao hơn do lạm phát. Doanh thu bán lẻ hải sản tại Mỹ tăng 4,4% lên 2,22 tỷ USD (1,9 tỷ EUR) trong 5 tuần kết thúc vào ngày 22/3, so với Mùa Chay năm 2025. Tuy nhiên, lượng bán đã giảm 2,8%.
Giá tôm hùm sống tại khu vực New England (Mỹ) đang duy trì ở mức cao khi thị trường bước vào giai đoạn nguồn cung hạn chế theo mùa, trước thềm mùa khai thác chính của Canada. Theo phân tích thị trường, đây là thời điểm thường xuyên ghi nhận nguồn cung thấp nhất trong năm, qua đó hỗ trợ giá tại cảng và giá bán buôn. Tuy nhiên, mức giá cao hiện nay chủ yếu được thúc đẩy bởi yếu tố cung hơn là cầu. Sau giai đoạn cao điểm tiêu thụ dịp lễ, hoạt động mua hàng trên thị trường vẫn khá trầm lắng, khiến tâm lý giao dịch duy trì ở trạng thái thận trọng.
Diễn biến giá cho thấy xu hướng tăng từ đầu năm đến tháng 3–4, sau đó thường điều chỉnh giảm khi nguồn cung cải thiện vào giữa năm. Trong bối cảnh hiện tại, thị trường nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì trạng thái “giá cao – giao dịch chậm” cho đến khi nguồn cung từ Canada tăng lên trong mùa vụ sắp tới.
Ngày 14/4/2026, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã công bố thông tin về các đơn hàng bị từ chối nhập khẩu trong tháng 3/2026. Trong số 90 đơn hàng nhập khẩu thủy sản bị từ chối thì tôm chiếm 7,8% với 7 đơn hàng do các vấn đề liên quan đến dư lượng thuốc kháng sinh.
Công ty có dòng sản phẩm bị từ chối nhập khẩu vào Mỹ trong tháng 3/2026 đến từ Ấn Độ (5 đơn hàng), Việt Nam (1 đơn hàng) và Thái Lan (1 đơn hàng).
Các công ty có dòng sản phẩm bị từ chối nhập khẩu vào Mỹ trong tháng 3/2026
|
Nước |
Tên công ty |
|
Ấn Độ |
Nezami Rekha Seafoods Private Limited (3 đơn hàng nhiễm dư lượng thuốc thú y) Monsun Foods Private Ltd (1 đơn hàng nhiễm dư lượng thuốc thú y) Nekkanti Mega Food Park Private Limited – Unit #1 (1 đơn hàng nhiễm dư lượng thuốc thú y, Nitrofurans và Chloramphenicol) |
|
Việt Nam |
Seavina Joint Stock Company (1 đơn hàng nhiễm dư lượng thuốc thú y) |
|
Thái Lan |
Asian Sea Corporation Public Company Limited (1 đơn hàng nhiễm dư lượng thuốc thú y) |
Nguồn: shrimpalliance
Như vậy, số đơn hàng bị FDA từ chối vì dư lượng thuốc kháng sinh trong quí 1 năm 2026 đạt 21 đơn hàng. Trong đó, Indonesia chiếm nhiều nhất với 8 đơn hàng, Ấn Độ đứng thứ 2 với 5 đơn hàng, Việt Nam đứng thứ 3 với 4 đơn hàng.
Số đơn hàng tôm và hải sản bị từ chối nhập khẩu vào Mỹ theo tháng trong năm 2025-2026
|
Tháng/năm |
Số đơn hàng tôm bị từ chối |
Số đơn hàng hải sản bị từ chối |
|
3/2025 |
8 |
119 |
|
4/2025 |
10 |
92 |
|
5/2025 |
11 |
82 |
|
6/2025 |
10 |
144 |
|
7/2025 |
10 |
98 |
|
8/2025 |
8 |
97 |
|
9/2025 |
14 |
97 |
|
10/2025 |
11 |
83 |
|
11/2025 |
6 |
69 |
|
12/2025 |
7 |
71 |
|
1/2026 |
11 |
121 |
|
2/2026 |
3 |
138 |
|
3/2026 |
7 |
90 |
Nguồn: shrimpalliance
Theo NOAA, nhập khẩu tôm của Mỹ trong tháng 2/2026 đạt 63,26 nghìn tấn, giảm 1,14% so với cùng kỳ năm 2025. Lượng nhập khẩu từ 2 thị trường lớn là Ecuador và Indonesia tăng lần lượt 23,2% và 4,4%, trong khi nhập khẩu từ Ấn Độ giảm 15,52% đứng thứ 2.
Lũy kế nhập khẩu tôm của Mỹ trong 2 tháng năm 2026 đạt 128,26 nghìn tấn, giảm 5,12% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, Ecuador là nước xuất khẩu lớn nhất vào Mỹ, đạt 41,56 nghìn tấn, tăng 25,53% so với cùng kỳ năm 2025. Ấn Độ xếp thứ 2 và Indonesia xếp vị trí thứ 3 với lượng đạt tương ứng 41,47 nghìn tấn (-25,69%); 23,28 nghìn tấn (+5,79%). Việt Nam là nhà cung cấp lớn thứ 4 vào Mỹ trong 2 tháng năm 2026 với lượng đạt 7,88 nghìn tấn (-8,09%).
Nhập khẩu tôm đông lạnh của Mỹ trong tháng 2/2026 so với cùng kỳ năm 2025 (tấn)
|
Thị trường |
T2/2026 |
T2/2025 |
% thay đổi |
|
Ecuador |
21,934 |
17,804 |
23.20 |
|
India |
20,817 |
24,641 |
-15.52 |
|
Indonesia |
10,930 |
10,469 |
4.40 |
|
Vietnam |
3,642 |
3,653 |
-0.30 |
|
Thailand |
1,634 |
2,034 |
-19.67 |
|
Mexico |
1,371 |
2,290 |
-40.13 |
|
Argentina |
1139 |
1300 |
-12.38 |
|
Bangladesh |
331 |
123 |
169.11 |
|
Canada |
269 |
212 |
26.89 |
|
Peru |
228 |
136 |
67.65 |
|
Khác |
968 |
1,333 |
-27.38 |
|
Tổng |
63,263 |
63,995 |
-1.14 |
Nguồn: NOAA
Nhập khẩu tôm đông lạnh của Mỹ trong 2 tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025 (tấn)
|
Thị trường |
2T2026 |
2T2025 |
% thay đổi |
|
Ecuador |
41,556 |
33,105 |
25.53 |
|
India |
41,467 |
55,805 |
-25.69 |
|
Indonesia |
23,278 |
22,003 |
5.79 |
|
Vietnam |
7,876 |
8,569 |
-8.09 |
|
Thailand |
5,104 |
4,260 |
19.81 |
|
Mexico |
2,732 |
4,343 |
-37.09 |
|
Argentina |
2,406 |
3,129 |
-23.11 |
|
Sri Lanka |
756 |
182 |
315.38 |
|
Saudi Arabia |
637 |
304 |
109.54 |
|
Bangladesh |
487 |
247 |
97.17 |
|
Khác |
1,959 |
3,234 |
-39.42 |
|
Tổng |
128,258 |
135,181 |
-5.12 |
Nguồn: NOAA
7. Các tin đáng chú ý của thị trường tôm thế giới
+ Trước tình trạng tôm nhập khẩu không rõ nguồn gốc và dòng chảy thương mại bất hợp pháp, Mexico đã chính thức triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc tôm quốc gia từ tháng 3/2026, nhằm tăng cường minh bạch và kiểm soát thị trường. Hệ thống do Comisión Nacional de Acuacultura y Pesca (CONAPESCA) vận hành, cho phép theo dõi toàn bộ sản phẩm tôm lưu thông trong nước, từ sản xuất nội địa đến nhập khẩu. Mỗi lô hàng sẽ được nhận diện rõ ràng, giúp cơ quan quản lý phát hiện các bất thường trong chuỗi phân phối và đưa vào giám sát thống nhất.
Trong những năm gần đây, ngành thủy sản Mexico nhiều lần phản ánh việc tôm nhập khẩu, đặc biệt từ Ecuador, vào thị trường mà không tuân thủ đầy đủ quy định, gây áp lực lên giá và lợi nhuận của sản phẩm nội địa. Việc áp dụng hệ thống truy xuất được xem là bước đi cần thiết để xử lý tình trạng này.
+ Giá bột cá nhập khẩu từ Peru đang tăng mạnh trong tháng 4, đẩy chi phí thức ăn thủy sản toàn cầu lên mức đáng lo ngại. Chỉ trong một ngày, giá bột cá loại super steam đã tăng thêm 700 NDT/tấn, lên mức kỷ lục 18.400–19.000 NDT/tấn, tạo cú sốc lớn cho thị trường. Tại Trung Quốc, hơn 150 doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi đã đồng loạt tăng giá từ tháng 3/2026, trong đó ngành thủy sản chịu tác động mạnh nhất. Nguyên nhân chính là nguồn cung bột cá bị thắt chặt do ảnh hưởng của El Niño, hạn ngạch khai thác giảm và các quy định kiểm soát đánh bắt ngày càng nghiêm ngặt.
Giá thức ăn vì thế tăng đáng kể: thức ăn cá nước ngọt tăng khoảng 200 NDT/tấn, trong khi thức ăn cho tôm và các loài giá trị cao tăng 300–800 NDT/tấn, thậm chí có lúc lên tới 1.000 NDT/tấn. Bên cạnh đó, tình trạng găm hàng bột cá khiến nguồn cung càng thêm khan hiếm và biến động giá khó lường.
+ Giá các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi chủ chốt trên thế giới đang tăng mạnh trong đầu tháng 4, theo dữ liệu từ Mạng lưới Thị trường Thức ăn Chăn nuôi Trung Quốc (China Feed Market Network), do ảnh hưởng của hạn chế nguồn cung và nhiều yếu tố bất định toàn cầu. Đáng chú ý, giá khô đậu tương và bột cá tăng cao đã kéo theo sự leo thang của nhiều nguyên liệu protein khác. Tại thị trường khô đậu tương, nguồn cung thắt chặt là nguyên nhân chính đẩy giá lên. Lo ngại về tiến độ thu hoạch đậu tương chậm hơn dự kiến tại Brazil cùng với việc thông quan hàng nhập khẩu bị trì hoãn đã khiến các nhà máy ép dầu giữ giá ở mức cao. Hiện giá giao ngay trung bình đạt khoảng 3.300 NDT/tấn (tương đương 455 USD/tấn), tăng 185 NDT (khoảng 25,5 USD) so với cuối tháng trước.
Tuy nhiên, giới phân tích nhận định áp lực có thể sớm hạ nhiệt khi lượng đậu tương nhập khẩu dần được thông quan, giúp nguồn cung cải thiện và tồn kho ổn định trở lại. Đồng thời, nhu cầu yếu do ngành chăn nuôi heo thua lỗ có thể gây sức ép giảm giá trong ngắn hạn. Trong khi đó, thị trường bột cá ghi nhận mức tăng mạnh hơn, lên mức cao kỷ lục. Giá bột cá Peru loại super steam hiện đạt 18.400–18.500 NDT/tấn (khoảng 2.535–2.550 USD/tấn), tăng 1.000–1.200 NDT so với cuối tháng trước. Đà tăng này xuất phát từ giá quốc tế leo thang, lo ngại thời tiết El Niño, tồn kho trong nước giảm và nguồn hàng bị găm giữ.