Bình luận thị trường Tôm tuần 9/4-15/4/2026: Xuất khẩu tôm của Việt Nam đầu tháng 4 tăng mạnh so với nền thấp cùng kỳ năm trước, song giá tôm nguyên liệu giảm mạnh và chi phí nuôi tăng nhanh đang tác động tới quyết định thả nuôi mới của hộ nuôi khi bước vào chính vụ 2026.

02:51 16/04/2026 AgroMonitor

Các nhà bán lẻ tại Mỹ đang hướng đến mùa tiêu thụ hàng hóa trong Lễ Phục Sinh sau một mùa Chay chưa đạt mức tiêu thụ cao.

Tại thị trường Mỹ, theo dữ liệu mua sắm hải sản và hàng tạp hóa bán lẻ mới, lượng bán hải sản tiếp tục giảm trong mùa Chay quan trọng, và các nhà bán lẻ hiện đang hướng tới Lễ Phục Sinh. Ông Chris DuBois, Phó Chủ tịch cấp cao của Circana cho biết mối lo ngại của người Mỹ về giá xăng cao và lạm phát hàng tạp hóa được phản ánh qua lượng bán lẻ thấp hơn trong mùa Chay. Đồng thời, dự báo về chi tiêu hàng tạp hóa cho Lễ Phục Sinh sẽ khả quan hơn.

Một cuộc khảo sát của Circana về những mối quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng vào tháng 1 cho thấy khả năng chi trả thực phẩm là mối quan tâm lớn nhất, vượt xa các vấn đề khác. Do những lo ngại chung về kinh tế, lượng hải sản bán ra giảm trong mùa Chay này, trong khi doanh thu lại cao hơn do lạm phát.

Doanh thu bán lẻ hải sản tại Mỹ tăng 4,4% lên 2,22 tỷ USD (1,9 tỷ EUR) trong 5 tuần kết thúc vào ngày 22/3, so với Mùa Chay năm 2025. Tuy nhiên, lượng bán đã giảm 2,8%.

Theo NOAA, nhập khẩu tôm của Mỹ trong tháng 2/2026 đạt 63,26 nghìn tấn, giảm 1,14% so với cùng kỳ năm 2025. Lượng nhập khẩu từ 2 thị trường lớn là Ecuador và Indonesia tăng lần lượt 23,2% và 4,4%, trong khi nhập khẩu từ Ấn Độ giảm 15,52% đứng thứ 2.

Lũy kế nhập khẩu tôm của Mỹ trong 2 tháng năm 2026 đạt 128,26 nghìn tấn, giảm 5,12% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, Ecuador là nước xuất khẩu lớn nhất vào Mỹ, đạt 41,56 nghìn tấn, tăng 25,53% so với cùng kỳ năm 2025. Ấn Độ xếp thứ 2 và Indonesia xếp vị trí thứ 3 với lượng đạt tương ứng 41,47 nghìn tấn (-25,69%); 23,28 nghìn tấn (+5,79%). Việt Nam là nhà cung cấp lớn thứ 4 vào Mỹ trong 2 tháng năm 2026 với lượng đạt 7,88 nghìn tấn (-8,09%).

Nhập khẩu tôm đông lạnh của Mỹ trong tháng 2/2026 so với cùng kỳ năm 2025 (tấn)

Thị trường

T2/2026

T2/2025

% thay đổi

Ecuador

21,934

17,804

23.20

India

20,817

24,641

-15.52

Indonesia

10,930

10,469

4.40

Vietnam

3,642

3,653

-0.30

Thailand

1,634

2,034

-19.67

Mexico

1,371

2,290

-40.13

Argentina

1139

1300

-12.38

Bangladesh

331

123

169.11

Canada

269

212

26.89

Peru

228

136

67.65

Khác

968

1,333

-27.38

Tổng

63,263

63,995

-1.14

 Nguồn: NOAA

Nhập khẩu tôm đông lạnh của Mỹ trong 2 tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025 (tấn)

Thị trường

2T2026

2T2025

% thay đổi

Ecuador

41,556

33,105

25.53

India

41,467

55,805

-25.69

Indonesia

23,278

22,003

5.79

Vietnam

7,876

8,569

-8.09

Thailand

5,104

4,260

19.81

Mexico

2,732

4,343

-37.09

Argentina

2,406

3,129

-23.11

Sri Lanka

756

182

315.38

Saudi Arabia

637

304

109.54

Bangladesh

487

247

97.17

Khác

1,959

3,234

-39.42

Tổng

128,258

135,181

-5.12

 Nguồn: NOAA

Giá tôm tại các nước sản xuất chính nhìn chung chưa có thay đổi về xu hướng so với tuần trước. Cụ thể tuần này, giá tôm tại Ấn Độ tiếp tục đà tăng khi bước vào vụ xuất khẩu, trong khi các nhà cung cấp châu Á tiếp tục giảm trong bối cảnh nguồn cung cải thiện.

Cụ thể, tại thị trường Ấn Độ: Giá tôm thẻ nguyên liệu tiếp tục đà tăng khi vào vụ xuất khẩu. Cụ thể, giá tôm thẻ tại Ấn Độ tăng 0,11-0,12 USD/kg so với tuần trước. Tại thị trường Ecuador, giá tôm tạm chững sau khi giảm mạnh với tất cả kích cỡ trong tuần trước do nguồn cung tăng trong khi nhu cầu nội địa vẫn ở mức thấp.

Tại các thị trường Indonesia, Thái Lan, Việt Nam: Giá tôm thẻ nguyên liệu tiếp tục giảm nhẹ. Bên cạnh đó, từ ngày 13-16/4, thị trường Thái Lan đóng cửa để nghỉ Tết cổ truyền Songkran. Tại Việt Nam, từ ngày 13-15/4, một số các nhà máy lớn tại Sóc Trăng cũng giảm/tạm ngưng nhận mua hàng trong dịp Lễ Chôl Chnăm Thmây.

Theo Tổng cục Thống kê Indonesia (BPS), trong tháng 2/2026, lượng xuất khẩu tôm đạt 16,5 nghìn tấn, trị giá 149,01 triệu USD, giảm 19% về lượng và 9% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Trong 2 tháng đầu năm 2026, Indonesia đã xuất khẩu 34,29 nghìn tấn tôm, trị giá 311,03 triệu USD, giảm 12% về lượng và 1% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025, chủ yếu do giảm xuất khẩu sang thị trường Mỹ (-18%).

Diễn biến giá tôm thẻ tại trang trại bang Andhra Pradesh (Ấn Độ), USD/kg

Nguồn: AgroMonitor

Diễn biến giá tôm thẻ tại trang trại Indonesia, IDR/kg

Nguồn: AgroMonitor

Đối với diễn biến trong nước, xuất khẩu tôm của Việt Nam đầu tháng 4 tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Dự kiến xuất khẩu tháng 4 sẽ tăng trưởng ở mức cao so với nền thấp cùng kỳ năm trước do chịu ảnh hưởng tiêu cực thời gian đầu của thông tin thuế quan đối ứng từ Mỹ.

Trong 7 ngày đầu tháng 4/2026, xuất khẩu tôm của Việt Nam đạt 6,88 nghìn tấn, trị giá 72,09 triệu USD, tăng 30% về lượng và 24% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu tôm thẻ đạt 5,21 nghìn tấn (+35%), trị giá 43,37 triệu USD (+27%), tôm sú đạt 576 tấn (-7%) và 7,57 triệu USD (+14%).

Trước đó, trong quý 1/2026 kết quả xuất khẩu tôm của Việt Nam cũng khá tích cực. Cụ thể, xuất khẩu tôm của Việt Nam 3 tháng đầu năm 2026 đạt 88,59 nghìn tấn, trị giá 1,03 tỷ USD, tăng 11% về lượng và 16% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu tôm thẻ đạt 66,27 nghìn tấn (+8%), trị giá 558,75 triệu USD (+4%); tôm sú đạt 6,31 nghìn tấn (+5%), trị giá 79,16 triệu USD (+9%).

Trở lại thị trường nguyên liệu tại ĐBSCL, tiến độ thu hoạch tôm tạm thời chậm lại trong tuần này do các nhà máy lớn tại Sóc Trăng giảm/tạm ngưng mua hàng trong dịp Lễ Chôl Chnăm Thmây (từ 13-15/4). Giá tôm nguyên liệu tiếp tục đà giảm, chi phí nuôi tăng, đặc biệt do giá thức ăn đang khiến lợi nhuận người nuôi giảm lại đáng kể trong tháng 4, gây ra rủi ro lớn về một năm 2026 chính vụ có thể rơi vào trạng thái được mùa mất giá.

Tuần này, giá tôm thẻ tại đầm ở ĐBSCL tiếp tục sụt giảm tuần thứ 12 liên tiếp ở mức 1.000-2.000 đ/kg. Trong tuần này, đà giảm giá được dẫn dắt chủ yếu bởi các nhà máy lớn ở Sóc Trăng chào giá giảm 1.000-3.000 đ/kg do nhu cầu mua hàng giảm trong dịp Lễ Chôl Chnăm Thmây (13-15/4). Tính đến giữa tháng 4/2026, giá tôm thẻ các cỡ 30-50 con/kg giảm mạnh 21.000-24.000 đ/kg so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá tôm cỡ lớn 30-50 con/kg tại đầm Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng ở mức 104.000-129.000 đ/kg. Xét về tương quan giữa giá thành sản xuất và giá bán tôm thành phẩm, trong tháng 3, người nuôi tôm thu được 26.000-28.000 đ/kg lợi nhuận với tôm cỡ 100 con/kg. Tuy nhiên, trong bối cảnh chi phí sản xuất tăng mạnh, tính từ ngày 1/4-10/4, lợi nhuận với tôm cỡ 100 con/kg đạt mức 10.000-15.000 đ/kg, giảm mạnh 13.000-16.000 đ/kg so với tháng 3. Biên lợi nhuận giảm mạnh tác động tới quyết định thả nuôi mới của người nuôi tôm trong thời gian tới.

Giá tôm sú nguyên liệu tại đầm ở ĐBSCL có xu hướng ổn định khi các nhà máy chế biến có xu hướng giữ giá thu mua ổn định do nguồn cung hạn chế, tỷ lệ thả mới ở mức thấp do chi phí sản xuất cao. Trong đó, giá tôm sú cỡ 30 con/kg tại đầm ở mức 165.000-170.000 đ/kg. Tính đến ngày 15/4, giá tôm sú nguyên liệu tăng 4-12% (7.000-12.000 đ/kg) so với cùng kỳ năm trước.

Tương quan giữa giá tôm thẻ tại đầm khu vực ĐBSCL và giá thành sản xuất trung bình tháng 3-4/2026, nghìn đồng/kg

Kích cỡ

Tháng 3/2026

Tháng 4/2026 (1/4-10/4)

Giá thành sản xuất

Giá bán

So sánh tương quan

Giá thành sản xuất

Giá bán

So sánh tương quan

Cỡ 100 con/kg

Ao đất

61-68

86-91

28-32

61-68

83-87

21-22

Ao bạt

72-78

91-92

26-28

72-78

87-88

10-15

Cỡ 80 con/kg

Ao đất

70-76

98-108

27-31

70-76

94-99

23-24

Ao bạt

76-80

102-108

19-26

76-80

95-99

19-20

Cỡ 50 con/kg

Ao đất

80-83

107-114

23-24

80-83

99-103

19-20

Ao bạt

85-95

111-114

9-13

85-95

100-103

8-15

Cỡ 30 con/kg

Ao đất

100-110

130-137

27-30

100-110

117-122

12-17

Ao bạt

115-121

133-137

26-28

115-121

119-122

1-4

 

Giá thành sản xuất được AgroMonitor tham vấn từ người nuôi, các đại lý thức ăn... Do thời gian nuôi tôm thẻ thương phẩm kéo dài từ 2-4 tháng, tình hình dịch bệnh diễn biến khó lường, đồng thời quy mô/đầu tư ao tôm rất đa dạng (ao đất, thức ăn trả tiền mặt/công nợ, ao nhà/ao thuê…..), nên giá thành sản xuất chỉ mang tính chất tham khảo và sẽ được hiệu chỉnh khi có thay đổi.

Nguồn: AgroMonitor (Ghi chú: So sánh tương quan giữa giá thành sản xuất và giá bán chỉ áp dụng đối với các ao nuôi tôm về trên cỡ 100 con/kg nên sẽ KHÔNG PHẢN ÁNH lợi nhuận/tỷ lệ nuôi thành công của toàn bộ thị trường, do có nhiều ao xả bỏ/thu hoạch gấp vì sự cố sẽ không thu hồi được vốn).

Chi phí nuôi tôm dự kiến sẽ tiếp tục đà tăng trong thời gian tới do giá thức ăn tôm khó hạ nhiệt sau 3 đợt tăng giá từ đầu năm trong bối cảnh giá các nguyên liệu đầu vào như bột cá, đậu tương tăng mạnh trên thị trường thế giới.

Tại Việt Nam, từ ngày 14/4, ADM đã thông báo tăng giá bán lẻ thức ăn tôm 350 đ/kg. Như vậy, từ đầu tháng 4/2025, giá thức ăn tôm tăng đợt 3 với mức tăng dao động từ 350-2.000 đ/kg (trung bình từ 1.200-1.500 đ/kg đối với loại dưới 40% đạm và trên 40% đạm). Trong đó, các công ty đã thông báo tăng giá bao gồm UP, Hải Long Bình Định, CP Việt Nam, ANT, CNC Growmax, Nutreco International (VN), De Heus.

Theo dữ liệu từ Mạng lưới Thị trường Thức ăn Chăn nuôi Trung Quốc (China Feed Market Network), giá các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi chủ chốt trên thế giới đang tăng mạnh trong đầu tháng 4, do ảnh hưởng của hạn chế nguồn cung và nhiều yếu tố bất định toàn cầu.

-        Tại thị trường khô đậu tương, giá giao ngay trung bình đạt khoảng 3.300 NDT/tấn (tương đương 455 USD/tấn), tăng 185 NDT (khoảng 25,5 USD) so với cuối tháng trước.

-        Giá bột cá nhập khẩu từ Peru đang tăng mạnh trong tháng 4, đẩy chi phí thức ăn thủy sản toàn cầu lên mức đáng lo ngại. Chỉ trong một ngày, giá bột cá loại super steam đã tăng thêm 700 NDT/tấn, lên mức kỷ lục 18.400–19.000 NDT/tấn, tạo cú sốc lớn cho thị trường. Tại Trung Quốc, hơn 150 doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi đã đồng loạt tăng giá từ tháng 3/2026, trong đó ngành thủy sản chịu tác động mạnh nhất. Nguyên nhân chính là nguồn cung bột cá bị thắt chặt do ảnh hưởng của El Niño, hạn ngạch khai thác giảm và các quy định kiểm soát đánh bắt ngày càng nghiêm ngặt.

Giá thức ăn vì thế tăng đáng kể: thức ăn cá nước ngọt tăng khoảng 200 NDT/tấn, trong khi thức ăn cho tôm và các loài giá trị cao tăng 300–800 NDT/tấn, thậm chí có lúc lên tới 1.000 NDT/tấn. Bên cạnh đó, tình trạng găm hàng bột cá khiến nguồn cung càng thêm khan hiếm và biến động giá khó lường.

Kết luận và triển vọng:

Dựa trên những động thái trong tuần đầu tháng 4/2026, nhận định thị trường tôm bước vào đầu Quý 2 với cả những yếu tố tích cực và tiêu cực. Trong đó, với điều kiện thời tiết thuận lợi hơn trong giai đoạn chính vụ, sản lượng tôm năm nay được kỳ vọng sẽ tăng so với năm ngoái, đồng thời giá giảm giúp cải thiện sức cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu cũng như kích thích nhu cầu tiêu thụ nội địa. Tuy nhiên, do chi phí đầu vào cho các nguyên liệu sản xuất thức ăn (bột cá, khô đậu...) đang tăng giá rất mạnh, khiến biên lợi nhuận của người nuôi tôm mỏng đi đáng kể. Điều này có thể ảnh hưởng tới quyết định thả mới của người nuôi trong thời gian tới.

Theo AgroMonitor đánh giá, xuất khẩu tôm Quý 2 vẫn tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ năm trước. Trong bối cảnh nhu cầu tại các thị trường lớn như Mỹ, EU, Úc, Nhật Hàn và Trung Quốc đều còn dư địa tăng trưởng cao trong năm nay.

Tin cũ hơn