Bình luận thị trường Tôm tuần 28/5-3/6/2026: Nhu cầu tiêu thụ tôm thế giới đang bắt đầu đối mặt với áp lực rõ ràng hơn từ sự leo thang về giá cả, đồng thời bắt đầu có sự phân hoá khi khu vực EU và thị trường Nhật Bản có xu hướng giảm nhập khẩu từ Ecuador, dần chuyển hướng sang các thị trường châu Á

05:12 04/06/2026 AgroMonitor

Dữ liệu cho thấy người tiêu dùng Mỹ phụ thuộc gần như hoàn toàn vào tôm nhập khẩu, song doanh số bán lẻ tháng gần nhất cho thấy họ ngày càng quan tâm vấn đề giá cả khi khả năng chi trả chịu ảnh hưởng mạnh bởi lạm phát. Trong khi đó, sự phân hoá bắt đầu xuất hiện tại các thị trường Châu Âu, Nhật Bản khi giảm nhập khẩu mạnh đối với tôm giá rẻ của Ecuador trong tháng 4, song lại tăng nhập khẩu hàng tôm khu vực châu Á (Ấn Độ và Việt Nam).

Theo dữ liệu của NOAA, sản lượng tôm nội địa của Mỹ hiện chỉ chiếm khoảng 5%–9% tổng lượng tiêu thụ tôm tại Hoa Kỳ. Điều đó có nghĩa là người tiêu dùng Mỹ phụ thuộc vào tôm nhập khẩu. Nếu không có nhập khẩu, tôm sẽ trở thành một sản phẩm cao cấp thay vì một nguồn protein dễ tiếp cận cho hàng triệu người tiêu dùng Mỹ. Thách thức đối với các cơ quan chính phủ của Mỹ là cân bằng giữa việc bảo vệ các nhà sản xuất trong nước trong khi vẫn giữ cho tôm có giá cả phải chăng và sẵn có cho người tiêu dùng Mỹ.

Trong khi đó, khách hàng Mỹ cũng đang đối mặt với những áp lực hiện hữu từ giá bán hải sản tăng cao do ảnh hưởng của lạm phát từ giá năng lượng tăng sau xung đột tại Trung Đông, điều này đang làm giảm sức cầu tiêu dùng và phần nào có thể làm giảm đà tăng nhập hàng mới.

Tuy nhiên, riêng đối với Việt Nam, nhu cầu nhập khẩu tôm từ Việt Nam của thị trường Mỹ có thể tiếp tục tăng, theo đà tăng được kéo dài từ đầu quý 2. Cụ thể, trong 26 ngày tháng 5, xuất khẩu tôm thẻ từ Việt Nam sang thị trường Mỹ tăng trưởng 18% so với cùng kỳ tháng 4. Trước đó, xuất khẩu tôm trong tháng 4 cũng tăng khoảng 39% so với tháng 3. Do đó, với nhu cầu của khách hàng Mỹ dự kiến tiếp tục tăng trong tháng 6 do trùng thời gian diễn ra World Cup thì xuất khẩu tôm từ Việt Nam đi thị trường Mỹ được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng.

Sự phân hoá bắt đầu xuất hiện tại Châu Âu, Nhật Bản khi giảm nhập mạnh đối với tôm từ Ecuador song lại tăng nhập khẩu hàng từ khu vực Châu Á.

Tại thị trường EU: Theo Eurostat, trong tháng 3/2026, nhập khẩu tôm của khu vực EU 27 (không bao gồm Anh) đạt 40,5 nghìn tấn, trị giá 253,7 triệu EUR, giảm 14% về lượng và 20% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Trong các thị trường cung cấp chính, lượng nhập khẩu từ Ecuador giảm mạnh nhất 4 nghìn tấn (-21%) so với cùng kỳ năm trước xuống mức 15,4 nghìn tấn. Trong khi đó, nhập khẩu từ các thị trường lớn tại châu Á vẫn ghi nhận gia tăng so với cùng kỳ năm trước như Ấn Độ đạt 7,9 nghìn tấn (+20%), Việt Nam đạt 3,85 nghìn tấn (+11%).

Trong quý 1/2026, nhập khẩu tôm của khu vực EU 27 đạt 129,7 nghìn tấn và 853,3 triệu EUR, giảm 4% về lượng và 9% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhập khẩu từ Ecuador vẫn dẫn đầu nhưng giảm xuống mức 41,1 nghìn tấn (-11%).

Tại thị trường Nhật Bản: Nhập khẩu tôm (mã HS 030616, 030617, 030636, 030695, 160521, 160529) của Nhật Bản trong tháng 4/2026 đạt 17,37 nghìn tấn, trị giá 167,6 triệu USD, giảm 8,38% về lượng và giảm 8,51% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Nhập khẩu từ Việt Nam và Ấn Độ tăng về lượng, lần lượt tăng 1,49% và 12,65%, trong khi nhập khẩu từ Indonesia giảm 18,15%. Nhập khẩu từ Ecuador cũng giảm 27,24% so với cùng kỳ năm trước.

Lũy kế nhập khẩu tôm của Nhật Bản trong 4 tháng năm 2026 đạt 63,01 nghìn tấn, trị giá 587,1 triệu USD giảm 1,41% về lượng và giảm 3,54% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, Việt Nam xuất khẩu lớn nhất vào Nhật Bản đạt 14,23 nghìn tấn, trị giá 146,87 triệu USD, giảm 2,57% về lượng và giảm 4,27% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Ấn Độ xếp thứ 2 và Indonesia xếp vị trí thứ 3 với lượng đạt tương ứng gần 11,08 nghìn tấn (+4,48%); 10 nghìn tấn (-2,28%).

Lượng và kim ngạch nhập khẩu tôm của khu vực EU 27 từ tháng 1/2025-3/2026 (nghìn tấn, triệu EUR)

Nguồn: Eurostat (bao gồm các mã HS 030617, 030636, 030695, 160521, 160529; chỉ tính nhập khẩu từ các nước nằm ngoài khu vực EU 27, không bao gồm nhập khẩu nội khối giữa các nước)

Nhập khẩu tôm của Nhật Bản trong tháng 4/2026 (so với cùng kỳ năm 2025)

Thị trường

T4/2026

T4/2025

% thay đổi

Lượng, tấn

Trị giá, nghìn USD

Lượng, tấn

Trị giá, nghìn USD

Lượng

Trị giá

Viet Nam

4,647

49,458

4,578

48,204

1.49

2.60

India

3,069

25,306

2,724

21,948

12.65

15.30

Indonesia

2,686

26,448

3,282

33,850

-18.15

-21.87

Thailand

2,083

21,841

2,541

26,250

-18.02

-16.80

China

1,436

9,556

1,334

8,026

7.67

19.07

Ecuador

1,417

10,328

1,948

15,271

-27.24

-32.37

Argentina

543

7,215

533

7,440

1.82

-3.03

Greenland

245

2,365

473

4,895

-48.16

-51.69

Canada

218

2,105

300

2,090

-27.42

0.73

Lithuania

191

2,191

59

792

223.21

176.69

Khác

836

10,789

1,188

14,433

-29.62

-25.25

Tổng

17,372

167,601

18,961

183,199

-8.38

-8.51

Nguồn: Hải quan Nhật Bản (tính theo các mã HS 030616, 030617, 030636, 030695, 160521, 160529)

Về phía các nước sản xuất xuất khẩu chính trên thế giới: Xuất khẩu tôm của Ecuador tiếp tục tăng mạnh trong tháng 4, trong đó đẩy mạnh xuất khẩu vào 2 thị trường Mỹ và Trung Quốc. Trong khi đó, nhà xuất khẩu tôm lớn thứ 2 trên thế giới là Ấn Độ có thể chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi biến đổi khí hậu.

Cụ thể, lượng xuất khẩu tôm của Ecuador trong 4 tháng đầu năm 2026 tăng 14% so với cùng kỳ năm trước: Theo Cục Nuôi trồng Thủy sản Ecuador (CNA), trong tháng 4/2026, lượng xuất khẩu tôm đạt 135,63 nghìn tấn, trị giá 711,57 triệu USD, tăng 18% về lượng và 17% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Luỹ kế 4 tháng đầu năm 2026, Ecuador đã xuất khẩu 503,68 nghìn tấn tôm, trị giá 2,68 tỷ USD, tăng 14% về lượng và kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lượng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc dẫn đầu và tăng 23% lên mức 259,44 nghìn tấn, thị trường Mỹ cũng tăng 31% lên mức 113,08 nghìn tấn.

Ngành tôm của Ấn Độ đang chịu tác động ngày càng rõ rệt từ biến đổi khí hậu, khiến sản xuất tại các vùng nuôi trọng điểm như Andhra Pradesh, Odisha, Tamil Nadu và Gujarat trở nên thiếu ổn định. Nhiệt độ nước tăng làm rối loạn trao đổi chất của tôm, giảm miễn dịch và làm gia tăng nguy cơ dịch bệnh như EMS, WSSV. Các đợt bùng phát dịch xảy ra thường xuyên hơn trong mùa hè, gây thiệt hại lặp lại và khiến sản lượng khó dự báo. Bên cạnh đó, thời tiết cực đoan như bão, lũ và mưa thất thường làm gián đoạn chu kỳ nuôi, gây biến động độ mặn và ảnh hưởng tỷ lệ sống của tôm. Thiệt hại hạ tầng ao nuôi và chi phí vận hành tăng cao khiến biên lợi nhuận bị thu hẹp, đặc biệt với hộ nuôi nhỏ và trung bình.

Trong tuần này, giá tôm tại Ấn Độ, Indonesia và Ecuador tiếp tục đà giảm với hầu hết các kích cỡ do nguồn cung tăng.

Lượng và kim ngạch xuất khẩu tôm của Ecuador từ 2025-4/2026 (nghìn tấn, triệu USD)

Nguồn: AgroMonitor

Tại Việt Nam: Giá tôm thẻ nguyên liệu tiếp tục giảm do nguồn cung tăng dần vào giai đoạn chính vụ. Ngược lại chi phí nuôi gia tăng với đợt tăng giá thức ăn thứ 4 kể từ đầu năm nay.

Xuất khẩu tôm của Việt Nam 26 ngày tháng 5 đạt 30,59 nghìn tấn trị giá 326,54 triệu USD, tăng 1% về lượng trong khi tương đương về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.

Trong tuần này, giá tôm thẻ nguyên liệu giảm khoảng 1.000-4.000 đ/kg so với tuần trước với hầu hết các kích cỡ khi nguồn cung tăng. Trong đó, giá thu mua tôm cỡ 50 con/kg tại các nhà máy ở mức 107.000-127.000 đ/kg, cỡ 100 con/kg ở mức 80.000-92.000 đ/kg. Bình quân giá tôm các cỡ 50 con/kg tại đầm Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng ở mức 106.000, giá tôm cỡ 100 con/kg ở mức 81.500 đ/kg.

Nhịp độ giao dịch tôm thẻ nguyên liệu tăng so với tuần trước khi nguồn cung tôm các cỡ 80 con/kg về lớn tiếp tục đà tăng dần vào giai đoạn chính vụ.

Đối với tôm sú, giá thu mua tôm sú nguyên liệu tại các nhà máy gia công tương đối ổn định, trong đó, giá tôm tươi cỡ 30 con/kg ở mức 175.000-200.000 đ/kg, cỡ 50 con/kg ở mức 135.000-150.000 đ/kg. Giá tôm ướp đá cỡ 50 con/kg tại đầm ở mức 130.000-135.000 đ/kg (đi ngang so với tuần trước). Lượng thu mua tôm sú nguyên liệu của các nhà máy chế biến tại ĐBSCL tăng nhẹ so với tuần trước trong bối cảnh nguồn cung tăng trong con nước quảng canh.

Về tình hình xuất khẩu: Trong 26 ngày tháng 5/2026, xuất khẩu tôm của Việt Nam đạt 30,59 nghìn tấn trị giá 326,54 triệu USD, tăng 1% về lượng trong khi tương đương về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu tôm thẻ đạt 23,57 nghìn tấn (+1%), trị giá 205,69 triệu USD (-3%), tôm sú đạt 3,27 nghìn tấn (-5%) và 41,59 triệu USD (+2%).

Luỹ kế 1/1-26/5/2026, xuất khẩu tôm của Việt Nam đạt 156 nghìn tấn, trị giá 1,75 tỷ USD, tăng 9% về lượng và 11% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu tôm thẻ đạt 118,14 nghìn tấn (+9%), trị giá 1 tỷ USD (+4%); tôm sú đạt 13,02 nghìn tấn (-4%), trị giá 164,71 triệu USD (+3%).

Chi phí nuôi tôm dự kiến sẽ tiếp tục đà tăng trong thời gian tới do giá thức ăn tôm tiếp tục đợt tăng giá lần 4 từ đầu năm trong bối cảnh giá các nguyên liệu đầu vào như bột cá, đậu tương tăng mạnh trên thị trường thế giới.

Cụ thể, từ ngày 3-8/6, các nhà máy New Hope Vĩnh Long và Alpha Feed tăng giá thức ăn tôm từ 1.200-1.500 đ/kg, trong đó thức ăn có độ đạm 40% trở xuống tăng khoảng 1.200 đ/kg còn thức ăn tăng trọng và thức ăn độ đạm cao 42-50% tăng nhiều nhất 1.500 đ/kg. Trước đó, các công ty Thăng Long, Hải Đại Vĩnh Long,… cũng đồng loạt thông báo tăng giá chính thức vào đầu tháng 6/2026.

Kể từ đầu năm, giá thức ăn tôm đã có 3 đợt tăng lần lượt vào tháng 1/2026, tháng 3/2026 và tháng 4/2026. Như vậy, sau 4 đợt tăng giá, giá thức ăn tôm hiện đã tăng khoảng 4.000-5.500 đ/kg so với thời điểm cuối năm 2025.

Theo đó, tại thời điểm đầu tháng 6/2026, giá thức ăn tôm thành phẩm có độ đạm 40% trở xuống đạt mức bình quân 41.000 đ/kg, thức ăn độ đạm cao 42-45% đạt bình quân 44.500 đ/kg.

Giá thức ăn thành phẩm tôm thẻ từ tháng 12/2025-3/6/2026, nghìn đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tính toán

Kết luận:

Như vậy, nhu cầu tiêu thụ tôm thế giới đang bắt đầu đối mặt với áp lực rõ ràng hơn từ sự leo thang về giá cả (như tại thị trường Mỹ), đồng thời bắt đầu có sự phân hoá khi khu vực EU và thị trường Nhật Bản có xu hướng giảm nhập khẩu từ Ecuador, dần chuyển hướng sang các thị trường châu Á (Ấn Độ, Việt Nam,...). Dù có được lợi thế từ sự phân hoá này, các thị trường Châu Á vẫn đang phải đối mặt với những thách thức lớn. Trong đó, Ấn Độ có thể đối mặt với rủi ro từ thực trạng biến đổi khí hậu. Về phía Việt Nam, thách thức từ chi phí gia tăng ở nuôi trồng nội địa.

Tin cũ hơn